Thực hiện xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia huyện Tánh Linh giai đoạn 2006-2010
27.08.2010 07:51
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi
Trong thời gian qua được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện đã ban hành các văn bản chỉ đạo xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2006-2010 cụ thể:
Nghị Quyết số 41/2006/NQ-HĐND ngày 10/7/2006 của HĐND tỉnh Bình Thuận Quyết định số 59/2006/QĐ-UBND ngày 20/7/2006 của UBND tỉnh Bình Thuận về phê duyệt Đề án “xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006-2010” Nghị Quyết Đảng bộ huyện Tánh Linh lần thứ VI (nhiệm kỳ 2006-2010) phấn đấu 23% trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2006-2010 Nghị Quyết số 14/2006/NQ-HĐND ngày 22/12/2006 của HĐND huyện và Quyết định số 05/2007/QĐ-UBND ngày 26/3/2007 của UBND huyện về ban hành Chương trình xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia huyện Tánh Linh giai đoạn 2006-2010.
Kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia và các phong trào xây dựng trường học đạt chất lượng cao như phong trào thực hiện cuộc vận động “Hai không”, “Xây dựng trường học thân thiện” đã góp phần hỗ trợ rất lớn cho việc hoàn thành các tiêu chí trường đạt chuẩn nhanh hơn.
2. Khó khăn
Việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về các tiêu chí xây dựng trường học đạt chuẩn của các cấp chưa được tuyên truyền thường xuyên, liên tục trong cơ quan trường học và nhân dân địa phương, đặc biệt là phụ huynh học sinh. Việc đầu tư xây dựng trường về cơ sở vật chất trong thời gian 4 năm qua là rất tích cực, nhưng hầu hết các trường mới chỉ đủ số phòng để cho học sinh học tập, còn việc hoàn thiện các phòng chức năng, khu phòng hành chính-quản trị, bàn ghế đúng qui cách, bãi tập, sân chơi… hầu như chưa có. Chất lượng học sinh xếp loại yếu kém, tỷ lệ học sinh bỏ học ở bậc THCS có giảm so với những năm trước, tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn cao so với tiêu chí quy định (Quy định trường chuẩn được phép bỏ học không quá 1%, huyện nằm ở mức 1,5% đến dưới 2% học sinh yếu kém ở lại lớp không quá 5%, huyện nằm ở mức 4,8 đến dưới 10%), những chức danh như y tế học đường hiện có 99% trường học không có nhân viên chuyên môn để bố trí.
II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Cùng với sự nỗ lực vươn lên của ngành giáo dục, sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong sự nghiệp phát triển giáo dục, việc “xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2006-2010” đã đạt được những kết quả nhất định. Trên thực tế, số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia còn thấp so với chỉ tiêu đề ra trong Nghị Quyết số 14/2006/NQ-HĐND ngày 22/12/2006 của HĐND huyện, kế hoạch phấn đấu 12 trường đạt chuẩn giai đoạn 2006-2010 nhưng chỉ đạt được 4 trường, tỷ lệ 33% của kế hoạch (Đồng kho 1, Lạc Tánh 1, Đức Bình 1, Mầm non Lạc Hồng). Tuy nhiên, hầu hết các trường đưa ra trong Nghị Quyết đều đạt được 3/5 tiêu chí chuẩn (Trường Mẫu giáo Búp Măng (Gia An), Tiểu học Huy Khiêm 1, Tiểu học Bắc Ruộng 1, Tiểu học Nghị Đức 1 THCS Lạc Tánh, THCS Đồng Kho, THCS Đức Phú, THCS Đức Thuận và THCS Nghị Đức).
1. Về tiêu chuẩn tổ chức và quản lý trường học: Có 12/12 trường đạt tiêu chí này, đạt tỷ lệ 100 %.
Ưu điểm của tiêu chí này là các trường đã bố trí sắp xếp đủ các tổ chức, bộ máy trong trường học, hầu hết cán bộ quản lý trường đã được bồi dưỡng nghiệp vụ.
2. Về tiêu chuẩn đội ngũ giáo viên: Có 6/12 số trường đạt tiêu chuẩn này, các mặt hạn chế chủ yếu của tiêu chuẩn này là:
- Chưa đảm bảo đầy đủ các loại hình giáo viên trong trường học
- Giáo viên dạy giỏi ở các cấp học chiếm tỷ lệ còn thấp, đặc biệt là cấp huyện và tỉnh.
Ưu điểm của tiêu chuẩn này là hơn 2/3 đội ngũ giáo viên đã có trình độ trên chuẩn trở lên bằng tinh thần tự học, tự rèn, tự đầu tư.
3. Về tiêu chuẩn cơ sở vật chất: Hiện nay, hầu hết các trường đều chưa đạt chỉ tiêu này, chỉ có 02/12 trường học cơ bản đạt tiêu chuẩn này. Các mặt hạn chế chủ yếu là:
Xây dựng cơ sở vật chất, chủ yếu là cố gắng đảm bảo đủ phòng học, chưa xây dựng được các phòng chức năng, sân bãi, các công trình vệ sinh trường học… Các trang thiết bị bên trong như bàn ghế chưa đúng qui cách, hầu hết các trường học Mẫu giáo chưa có đồ chơi ngoài trời.
4. Về tiêu chuẩn xã hội hoá giáo dục: Tất cả các trường đều đánh giá đạt tiêu chí này. Mặt ưu điểm của tiêu chí này là, hầu hết các trường học đều phối hợp tổ chức Đại hội Giáo dục cấp cơ sở định kỳ thành lập các Ban Đại diện cha mẹ học sinh phối hợp hoạt động tốt với các trường học Cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo toàn diện về các mặt trên lĩnh vực giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức lối sống của đội ngũ nhà giáo đến việc học tập của con em học sinh…
Mặt hạn chế chủ yếu là chưa có định hướng phát triển lâu dài các trường học để huy động các nguồn lực tại địa phương tham gia xây dựng nhà trường, tạo niềm tin nơi cha mẹ học sinh. Chưa có sự phối hợp đồng nhất giữa 3 môi trường giáo dục: Gia đình, nhà trường và xã hội trong việc nâng cao chất lượng giáo dục để hạn chế những thói hư tật xấu, bạo lực trong học đường, học sinh bỏ học… Việc đầu tư vật chất để xây dựng khuôn viên, khung cảnh nhà trường của phụ huynh học sinh, của nhân dân, của các tư nhân ở các bậc học tiểu học, THCS, mẫu giáo so với bậc học THPT và một số địa phương khác là rất hạn chế.
5. Về tiêu chuẩn chất lượng giáo dục: Có 6/12 trường đạt được tiêu chuẩn, hầu hết các trường THCS chưa đạt được tiêu chí này. Các mặt hạn chế chủ yếu là:
- Các hoạt động giảng dạy và giáo dục trong nhà trường chưa tạo điều kiện phát huy tính tích cực chủ động, tìm tòi sáng tạo, khả năng tự học của học sinh do chưa có cơ sở vật chất kỷ thuật, phòng chức năng, phòng bộ môn…
- Chất lượng học lực nhìn chung toàn huyện đều được nâng lên, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, học sinh yếu kém giảm, tuy nhiên so với yêu cầu tiêu chuẩn chung của Bộ Giáo dục và đào tạo thì nhiều trường chưa đạt tiêu chí này.
Học sinh bỏ học ở bậc THCS còn cao (quy định trường chuẩn được phép học sinh bỏ học không quá 1%, nhưng bình quân ở huyện giao động từ khoảng 1,5% đến dưới 2%).
Từ thực trạng về các tiêu chuẩn quy định của trường học đạt chuẩn quốc gia đã nêu trên, cho thấy một số nguyên nhân chủ yếu tác động đến quá trình xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia trong thời gian qua đó là:
* Nguyên nhân những việc làm được và những việc chưa làm được:
- Việc phát triển mạng lưới trường lớp ở hầu khắp các địa bàn trong huyện để thực hiện công tác phổ cập giáo dục và công tác giáo dục miền núi đã làm cho kinh phí xây dựng cơ sở vật chất trường học hàng năm của huyện và tỉnh chỉ đủ đảm bảo các điều kiện tối thiểu về phòng học, bàn ghế, bản… chưa có điều kiện đầu tư xây dựng các yêu cầu về cơ sở vật chất kĩ thuật khác trong trường học.
- Việc quy hoạch, quỹ đất bố trí cho các trường học nhất là các trường mẫu giáo ở một số xã không đảm bảo về diện tích, không phải là khu trung tâm của các thôn, xã.
Do tình hình trường lớp phát triển khá nhanh ở những năm trước nên việc tạo nguồn, chất lượng đầu vào giáo viên còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Ngành đã có biện pháp khắc phục đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn bằng cách đưa đi bồi dưỡng, chuẩn hóa nhưng chất lượng giảng dạy một số giáo viên còn yếu chưa theo kịp với việc đổi mới chương trình. Việc học sinh không tự giác trong học tập, gia đình phụ huynh không có trách nhiệm với con cái dẫn tới việc nghỉ học, bỏ học tuỳ tiện và học kém của học sinh, cộng thêm việc đổi mới chương trình giáo dục là quá sức với một số học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số.
* Bài học kinh nghiệm rút ra:
Cần ý thức hơn nữa về công tác giáo dục tại địa phương, khơi dậy phong trào toàn dân học tập và chăm lo cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, coi giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu.
Về phía ngành giáo dục, đặc biệt là đội ngũ giáo viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tự học tự rèn, nêu gương sáng về đạo đức, tận tâm, tận tụy với học sinh, sáng tạo trong công việc, phấn đấu đạt được trình độ hiểu biết cao về chuyên môn để có được lòng tin đối với học sinh, phụ huynh, đồng nghiệp tôn trọng và xã hội tôn vinh.
Trong chỉ đạo đầu tư cơ sở vật chất, và xây dựng cơ sở vật chất cần đầu tư trọn gói các gói thầu, ưu tiên đầu tư tập trung có địa chỉ theo kế hoạch trong Nghị quyết.
III. KẾ HOẠCH, GIẢI PHÁP
1. Kế hoạch và giải pháp
UBND huyện tiếp tục chỉ đạo phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tham mưu xây dựng trường chuẩn Quốc gia đảm bảo thực chất 05 tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, không chạy theo thành tích mà tập trung theo hướng hiện đại hóa về cơ sở vật chất, đội ngũ, tổ chức và quản lý nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện của ngành.
Các địa phương tập trung ra soát, đánh giá việc triển khai thực hiện xây dựng trường học đạt chuẩn thời gian qua tại địa phương mình. Trên cơ sở đó, căn cứ Nghị quyết 14/2006/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân huyện và Quyết định số 05/2007/QĐ-UBND ngày 26/3/2007 của UBND huyện về ban hành Chương trình xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia huyện Tánh Linh giai đoạn 2006-2010.
Căn cứ vào phần đánh giá thực trạng 05 tiêu chí của các trường, phòng Giáo dục và Đào tạo huyện phối hợp với các cơ quan liên quan: Phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Tài nguyên - Môi trường, phòng Công thương, Ban Quản lý dự án huyện, UBND các xã, thị trấn tham mưu cho UBND huyện kế hoạch thực hiện các tiêu chí về xây dựng cơ vật chất, xã hội hóa giáo dục. Đồng thời, chỉ đạo các trường thực hiện tốt các tiêu chí còn lại.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, viên chức và nhân dân hiểu được quan điểm, đường lối xây dựng sự nghiệp giáo dục của Đảng, Nhà nước giai đoạn trước mắt và lâu dài. Sự cần thiết phải đầu tư xây dựng các trường học trọng điểm đạt được các tiêu chuẩn quốc gia. Đồng thời, đảm bảo các điều kiện thiết yếu cho việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục trên địa bàn huyện.
Thực hiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, cấp học, coi trọng bồi dưỡng khả năng tự học, chỉ đạo tốt các hoạt động giảng dạy và giáo dục trong trường học, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn ngành.
Ngành giáo dục cần chú ý khai thác sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học đã trang bị, phối hợp với các hình thức tổ chức dạy học thích hợp theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, không ngừng, nâng cao hiệu quả của giờ dạy, thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch giảng dạy đã quy định. Đẩy mạnh hoạt động giáo dục ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp, tạo điều kiện cho học sinh được tham gia các hoạt động tại địa phương, góp phần hình thành nhân cách, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống tăng tỷ lệ trường lớp, học sinh tiểu học, THCS được học 2 buổi/ngày học sinh mầm non, học sinh dân tộc được học bán trú, thực hiện tốt cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Tập trung kinh phí xây dựng cơ sở vật chất các trường học dự kiến đạt chuẩn quốc gia trong kế hoạch mỗi năm ngoài kinh phí ngân sách của tỉnh huyện đầu tư cho việc xây cơ sở trường học, đề nghị các địa phương có kế hoạch huy động thêm kinh phí từ các nguồn trong nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, để tăng thêm kinh phí xây dựng trường tại địa phương mình.
Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với phòng Tài chính - Kế hoạch huyện căn cứ vào nhu cầu của từng đơn vị dự kiến xây dựng đạt chuẩn, tham mưu cho UBND huyện phân bổ nguồn kinh phí hỗ trợ của tỉnh đã được phê duyệt và kinh phí của huyện đảm bảo hợp lý, tiến độ, thời gian quy định.
Xây dựng đội ngũ giáo viên các bậc học, cấp học đảm bảo chuẩn, đủ năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh, đủ số lượng và các loại hình giáo viên cho các ngành học, cấp học theo quy định. Tăng cường hoạt động chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm giữa các trường, cụm trường. Nâng cao vai trò, năng lực quản lý trường học của hiệu trưởng về các mặt, đặc biệt là quản lý về pháp luật, nhân sự, tài chính và chuyên môn./.
(Theo UBND huyện Tánh Linh) |