Truyện ngắn: Xóm Mai vàng
04.07.2007 13:05
Xóm Mai Vàng nằm trên con đường nhỏ men theo rìa cánh đồng làng. Xóm tên là Mai Vàng nhưng nhìn từ xa thì chỉ thấy toàn cau là cau. Cau mọc trước ngõ, cau đứng sau nhà, cau so hàng thẳng tắp trên con đường vào xóm. Bây giờ, người ăn trầu mỗi ngày một ít, còn lớp trẻ thì chỉ thích nhóp nhép xinh gôm, nhưng cau vẫn thẳng hàng đứng đó, dù lắm lúc trái đã khô quắt khô queo mà chẳng ai buồn hái làm gì.
Trong xóm Mai Vàng có một cội mai không biết được trồng từ bao giờ mà cành lá, nhánh nhóc cứ rườm rà, tết đến nở hoa vàng rực. Hậu vẫn hay săm se ngắm nghía cội mai, nhưng thú thực anh chẳng thích mai là mấy. Anh hay ngắm mai chỉ vì nó nằm trong vườn ông Triệu, mà ông Triệu thì lại có cô Hai Dừa xinh xinh, tuổi chưa qua mười tám. Hậu không thích mai, am hiểu về mai thì mù mờ nhưng vẫn đường đường là hội viên hội sinh vật cảnh của huyện, mà lại là hội viên duy nhất của xóm Mai Vàng. Dân trong xóm nhiều người phục tài Hậu, vì Hậu biết nhiều thế cây mà đọc lên nghe rổn rảng toàn tiếng Hán. Nào là “phong đầu bách hợp”, “dĩ kế phong trần”, rồi lại “khuỳnh địa nghinh phong”, “Lục hoà”, “kình thiên”, “Phụ tử”,… Ông Triệu thích Hậu cũng vì nhiều cái thế mà Hậu đọc lên ông nghe lạ huơ lạ hoắc, dù ông là người chơi cây cảnh cũng đã khá lâu. Ông Triệu chơi kiểng nhiều loại, nhưng ưu tiên số một vẫn là mai vàng. Cái giống mai vàng thân thì khẳng khiu, lá thì thưa thớt, nhưng được cái là biết nở hoa khứng với đất trời mà đâm ra được chuộng. Giá như không có một mùa hoa vàng rực lúc xuân về thì chắc chắn loài người sẽ quên cả việc đặt tên cho mai, chứ nói gì đến việc bứng vào trong chậu để chăm bón, cắt tỉa cả năm trời. Lần đầu tiên ông Triệu đem mai về trồng trong chậu, cả nhà ai cũng cho là gàn. Cái giống cây vô dụng ấy, cứ gần đến tết thì tìm về chưng vài bữa, ra giêng hoa rụng hết lại đem quẳng ra hè phơi khô làm củi; cả ngàn đời nay nào có ai trồng trọt tỉa tót gì đâu? Mãi cho đến một hôm, trên huyện có một anh cán bộ quần áo thẳng thớm đưa một người thẳng thớm áo quần tìm về gạ gẫm chậu mai với cái giá bằng cả một cặp trâu, vợ con ông Triệu mới mắt tròn mắt dẹt phục tài ông sát đất. Ông Triệu có cả một khu vườn trồng rất nhiều mai. Trước nhà ông có treo một tấm biển nhỏ với mấy chữ xiên xẹo viết bằng dầu hắc: “Có mua mai gốc”. Tấm biển rất nhỏ và chữ viết rất xấu nhưng lại có đủ hấp lực để khiến đám sơn tràng cũng phải rã nghề, về đi đào gốc mai bán lại cho ông. Buôn mai lời lắm, nên mới hơn một năm mà ông Triệu đã có cả một vườn mai riêng cho mình. Mai nhiều, nên ông Triệu luôn hoan nghênh sự có mặt của Hậu. Hậu, tay làm giúp ông Triệu, nhưng đôi mắt lại cứ sục sạo tìm theo cái dáng của cô Hai Dừa đang gánh đất vô chậu ở mé vườn sau. Bao giờ cũng vậy, Hậu làm được một chặp thì thể nào cô Hai Dừa cũng bưng hai cốc nước mát lạnh ra mời. Uống không biết đã bao nhiêu là nước của cô Hai Dừa, nhưng mỗi lần tiếp cốc nước từ tay cô Hai, Hậu lại thấy lóng nga lóng ngóng như bà già uống thuốc. Hậu thuộc dạng có khẩu khí, mở miệng ra là lấn át người khác. Một lần Hậu khăng khăng cãi rằng giờ tí là giờ mặt trời mọc, là sáu giờ sáng, khiến anh Tám Ngự không biết vì cãi không lại hay vì không thèm cãi mà quay qua nói nhỏ với người khác: “Tao im cho nó tưởng nó đúng, dốt khư khư cho đáng cái đời!”. Ba Hậu từng bảo, mày có một cái miệng nhưng có đến hai lỗ tai, liệu lấy mà dùng. Nhiều lúc ngồi nghĩ lại, Hậu cũng thấm thía lắm, nhưng cái thói đã mở miệng là phải thắng người ấy nó đã ăn sâu vào máu mất rồi. Những kẻ háo thắng thì ắt sợ thua, sợ lời mình nói ra không làm thay đổi được trục dao động của cái đầu người khác, nên họ thường rất sợ phải nói những lời đề nghị, lời khẩn cầu trong thế bấp bênh. Và tất nhiên, yêu cũng là một lời khó nói. Bịa ra một thế cây để tán cho ông Triệu phải gật gù, Hậu dám. “Nổ” rằng mình vừa đi sửa thế một cây si khiến cho đám nghệ nhân Sài Gòn ngả mũ, Hậu cũng dám. Vậy mà một lời yêu nói với cô Hai Dừa, Hậu lại nói hổng xong! Hậu không dám nhưng thằng Nghĩa lại dám. Thằng Nghĩa đúng là đồ “đũa mốc chọc mâm son”, liều lĩnh, không tự biết sức mình. Ngay từ khi thằng Nghĩa mới đến xin làm công cho ông Triệu, Hậu đã không ưa, cô Hai Dừa thì lại càng ghét cay ghét đắng. Cô Hai Dừa ghét thằng Nghĩa vì nó ăn nói liều lĩnh, hay văng tục, hay nói những điều mà con gái mười tám chẳng bao giờ dám nghe. Thằng Nghĩa thường khoe cái tài tán gái của mình. Rằng không riêng gì con gái, mà đến cả mấy bà có chồng nghe nó tán cũng phải đảo điên. Chuyện tán gái mà mang ra kể thì nghe cũng tạm được, chứ đến chuyện lên giường với người khác mà nó cũng mang ra kể tỉnh queo thì đúng là khùng, khùng quá thể. Khùng, nên thằng Nghĩa cứ nghĩ rằng chuyện lôi được một người phụ nữ lên giường là hay, là rất đáng tự hào, cần phải khoe cho nhiều người biết. Một lần thấy thằng Nghĩa ngẩn ngơ nhìn theo dáng cô Nguyệt đi dạy về, tự nhiên Hậu buột miệng: - Nghĩa, tao biết mày đang nghĩ gì rồi! - Nghĩ gì? – Thằng Nghĩa giật mình. - Mày thì nghĩ được gì ngoài chuyện giường chiếu, hử? Không ngờ thằng Nghĩa vặc lại: - Nè, không được nói bậy à. Cô Nguyệt là người đứng đắn, có cho vàng thằng này cũng hổng làm bậy. Thằng này chơi bời, nhưng là chơi theo cách của người hành hiệp, chứ hổng bạ đâu xâu đó đâu à nghen! Thấy mọi người phá lên cười, Hậu tiếp: - Người hành hiệp thường hay luyện cung mài kiếm, còn mày hành hiệp thì mài gì, hả Nghĩa?
Thằng Nghĩa không thèm trả lời Hậu, mà quay sang phân bua với ông Triệu. Rằng, chuyện cơm gạo thì đua tranh, chẳng nói; chứ cái chuyện chơi thì phải chơi sao cho có ý, có ích, có mục đích, có phương châm. Mấy bà mấy cô cao đạo, cho mình là hay, là sạch mà coi khinh người khác, nó lôi lên giường để họ biết rằng mình cũng có một nỗi xấu hổ cần che giấu mà sống tốt hơn. Mấy ông có vợ mà còn tòm tem, nó tòm tem lại với mấy bà vợ cho các chả biết cái lẽ cư xử bình đẳng vợ chồng. Nhưng đặc biệt là mấy gã đi tù mà dư luận cho là có chạy chọt nên án đáng bảy kêu ba, nó phải tìm cách lôi các bà vợ lên giường như là một cách nhân đôi sự trừng phạt. Chơi bời mà kiểu đó, hổng phải hành hiệp là gì?
Hậu ngoảnh mặt đi chỗ khác, thầm nghĩ đến nào gươm, nào giáo, nào cung, nào chùy của các vị anh hùng Lương Sơn Bạc, rồi lại nghĩ đến cái vũ khí hành hiệp của thằng Nghĩa mà cái cười cứ lục bục trong cổ. Người ta hành hiệp mũ trụ giáp sắt, nó thì hành hiệp không một mảnh vải che mông! Ấy vậy mà ông Triệu lại có vẻ khoái cái cách nghĩ lạ đời của thằng Nghĩa. Có lần chỉ có hai chú cháu, ông gật gù bảo Hậu: - Cái thằng Nghĩa nói ngộ, mà hay. Đám bợm bãi chơi bời, tao gặp đã nhiều, nhưng chẳng ai biết cách chơi như nó!
Ông Triệu khoái thằng Nghĩa thì không sao, nhưng đến cô Hai Dừa mà cũng khoái thằng Nghĩa thì chỉ còn nước xếp sách! Một lần, cô Hai Dừa bưng nước ra mời, thằng Nghĩa không thèm cầm ly mà chộp ngay lấy hai cổ tay, rồi cứ nắm khư khư như đười ươi dụng chiêu“cầm nã thủ”. Lạ, cô Hai cúi đầu im re, rồi mặt đỏ lựng lên, rồi bẽn lẽn, rồi mới giật tay lại bỏ chạy vào nhà. Những điều ấy diễn ra ngày trước mắt Hậu. Hậu ngạc nhiên, Hậu bàng hoàng, và Hậu tiếc, tiếc ghê lắm. Hậu bấm cành mai mà tay chảy máu. Hậu nhìn thằng Nghĩa bằng ánh mắt dường như có lửa mà nước mắt từ đó chảy ra lại lạnh ngắt lạnh ngơ. Hậu tiếc cho mình, và tiếc cho cả cô Hai Dừa. Và đến khi bắt gặp thằng Nghĩa và cô Hai lúi xúi với nhau ở sau hè thì Hậu không thể ngồi yên được nữa. Hậu quyết làm cho cô Hai phải chú ý đến mình nhiều hơn bằng cách nói nhiều hơn, cười nhiều hơn và cả khoe khoang nhiều hơn. Đầu tiên, Hậu bán cho khách sạn năm sao một gốc si với giá hai mươi triệu. Tiếp đến, Hậu sửa giúp một nghệ nhân ở Hóc Môn một cây sung, và ngay lập tức có người vào trả với giá cao gấp ba lần trước đó. Trong khi mắt người khác mở to ra trước cái chuyện làm ăn phát đạt của Hậu thì mắt thằng Nghĩa lại cứ từ từ nhíu lại:
- Anh sửa cây hay anh tưới cây á? Chứ hồi năm kia tui có tưới cho một nghệ nhân ở Tao Đàn một cây sanh, và sau đó, anh biết không, một ngoại kiều mê quá, trả giá cả trăm triệu bạc, tính mang ra nước ngoài…
Lối ỡm ờ khoe mà không có gì để khoe ấy của thằng Nghĩa rõ ràng là có ý châm biếm. Hậu đỏ mặt, nhưng cũng cố làm ra vẻ bề trên: - Dóc tổ! Thế mày biết cây sanh ấy cắt theo thế gì không, nói tao nghe thử? - Thiên thủ thiên nhãn!
Người chuyên có những thế cây lạ hoắc cảm thấy lạ hoắc trước một thế cây. Hậu đưa mắt nhìn thằng Nghĩa, dò xét. Biết là thằng Nghĩa chả biết gì về thế, nhưng nó dựng trận mù thế này hỏi làm sao Hậu không chột dạ. Dù không biết thế “thiên thủ thiên nhãn” nó thế nào, nhưng Hậu cũng liều bĩu môi: - Dào! Thời buổi này ai mà thèm chơi cái thế cổ lỗ sĩ đó! Xưa còn hơn trái đất! - Liệu anh có biết thế đó không mà bảo “xưa”? - Hô! Lạ gì! – Hậu bật lên tiếng cười mỉa mai.
Bỗng thằng Nghĩa, cô Hai Dừa, và cả ông Triệu nữa, rũ ra mà cười như có ai chọc lét. Cô Hai Dừa nhặt một khúc củi, vừa gõ vào thùng tưới vừa ê a: - Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, Nam mô…
Tiếng tụng kinh ê a của cô Hai Dừa khiến cho Hậu biết là mình vừa mắc lỡm thằng Nghĩa. Hậu đã giẫm chân vào chính cái bẫy của mình. Hậu đứng sượng sùng giây lâu rồi chợt nghe cục uất chờn vờn trong cổ. Ừ, thì Hậu nói dóc, nhưng cái dóc ấy có hại ai đâu? Hậu không có cây kiểng nào đáng giá nên đã bán thì phải bán thật xa. Bán xa, được cái là bán đắt cũng có người mua, rồi khi vui miệng lại đem ra trưng bày ở Tao Đàn, ở Đầm Sen thì cũng chẳng ma nào kiểm chứng. Còn tiền ư, tiền đem ra vui với các bậc nghệ nhân thành thị, vừa được tiếng là rộng rãi, lại cũng có cớ mà khoe là vừa ngồi chung với nghệ nhân này, nghệ sĩ kia cho nó oách cái đời. Còn vì sao phải phịa ra như thế ư? Vì tôi yêu cô đấy, biết chưa, hở Hai Dừa? Tôi nói dóc để thấy mình vĩ đại, rồi tôi sẽ phải đạo mạo, sẽ nghiêm chỉnh, sẽ sống tốt hơn cho xứng với danh phận ấy của mình; nghĩa là xã hội sẽ bớt đi một kẻ hư hỏng, như vậy há có gì không tốt ư, sao mọi người lại cười cợt tôi kia chứ? Hậu không đến nhà ông Triệu nữa, không phải vì giận, mà là vì những đổ vỡ trong chính tâm hồn của mình. Hậu sợ phải chứng kiến cảnh thân mật giữa cô Hai với thằng Nghĩa. Không đến, là mong rằng sẽ quên, nhưng sao Hậu vẫn nhớ quay nhớ quắt. Hậu nhớ mái tóc dài thơm lừng hương hoa bưởi, nhớ cánh tay nuột nà như bẹ chuối non, nhớ ánh mắt, nhớ nụ cười không lẫn vào đâu được của cô Hai Dừa. Hậu tiếc, tiếc đến ngẩn ngơ cho cái sự lựa chọn đầy nông nổi của cô Hai. Nhưng Hậu tiếc một, ông Triệu lại tiếc phải đến mười. Dù chỉ là một lão nông không lấy gì làm khá giả, nhưng trong mắt ông Triệu thì cô con gái rượu vẫn cứ là lá ngọc cành vàng. Bởi thế, làm sao ông chịu được khi tận mắt bắt gặp thằng Nghĩa đang ôm nghiến lá ngọc cành vàng của ông trong chái bếp. Cái giận cành hông không để cho ông kịp suy nghĩ gì cả, cứ quơ đại cây đũa bếp mà đuổi đánh thằng Nghĩa ra đến tận đầu làng. Ăn ba cây đũa bếp của ông, không biết thằng Nghĩa có đau không, chứ ông thì đau còn hơn ai đem dao cắt ruột. Thằng Nghĩa không dám bén mảng đến nhà ông Triệu, nhưng cô Hai Dừa thì lại dám trốn ông Triệu để đi gặp thằng Nghĩa. Đêm đêm, người ta thấy ông cắp cái quạt sau lưng, cố làm như đang đi dạo mát, nhưng ánh mắt lại cứ sục sạo kiếm tìm. Nhiều bữa cô Hai Dừa đi chơi về, thấy cha ngồi một mình giữa khoảng sân nhỏ tràn ngập ánh trăng; chai rượu lăn bên mép chiếu, cái chén vỡ nát lấp loá sáng bên hè. Ông giấu giông bão trong dáng ngồi tiều tụy, như thế, đêm đêm. Rồi cho đến một ngày, đang nửa đêm người ta hớt hãi đến báo với ông là cô Hai bị nạn, đã được đưa vào bệnh viện. Ông đến, đứng ngoài cửa lặng lẽ nhìn con, rồi lại lặng lẽ bỏ về. Cái con người nằm kia nào có phải con ông. Con ông nước da trơn trắng, thẳng thớm áo quần, chứ có sứt sẹo, có nhàu nhĩ như một mảnh giấy bị vò nát thế đâu? Ông không vào không phải vì ông không thương con. Vợ chồng ông nào có còn ai ngoài nó. Sở dĩ ông không vào vì con gái ông đang mặc áo trái, mà lại có cả thằng Nghĩa đang quấn băng trắng toát nằm ở giường bên. Người ta xì xầm rằng do ông khó quá, nên con ông phải trốn đi hẹn với người yêu trong sâu tít vườn điều, may mà nó chỉ sa giếng cạn... Con sa xuống giếng, đã đau, nhưng việc cả làng biết con gái ông đi yêu thằng Nghĩa lại càng khiến ông đau hơn. Hậu đến thăm cô Hai, nghe trong lòng nặng trĩu. Cô Hai xinh đẹp ngày nào giờ đây vêu vao, sứt sẹo, tím bầm, thê thảm như một con mèo ướt. Hậu cố làm ra vẻ bình thản như một người anh lối xóm đi thăm em gái, nhưng quả thật hình ảnh cô Hai ám ảnh Hậu suốt cả tháng trời. Hai con người lành lặn thì yêu nhau, nhưng đến khi sứt sẹo rồi thì ai cũng nghĩ là người kia không còn xứng đáng với mình. Mối quan hệ giữa thằng Nghĩa với cô Hai Dừa trước kia vì ông Triệu mà say đắm, thì bây giờ cũng vì ông Triệu mà hồ rã keo tan. Thằng Nghĩa bỏ nhà đi biệt; ba tháng sau người ta còn nghe tiếng khóc của cô Hai Dừa… Những ngày đầu của ba tháng ấy cô khóc cho người ra đi, nhưng những ngày cuối của ba tháng ấy cô lại khóc cho người ở lại. Người ở lại đang lớn dần lên trong nỗi thắc thỏm lo âu, sợ hãi của người thai phụ mới vừa qua mười tám. Một đêm mùa đông đầy sương và giá lạnh, một anh chèo xuồng đi giăng câu vớt được cô Hai Dừa ở gần chân cầu Vống. Thấy thân thể cô gái còn ấm, anh ta vội vác lên bờ chạy lòng vòng xốc nước, rồi lại vác ra đường, ngoắc xe ôm đưa lên bệnh viện. Cô Hai Dừa được cứu sống, nhưng cái thai thì không. Sự nhiệt tình của chàng trai tốt bụng đã vô tình giết chết cái thai nhi bé bỏng. Chuyện gia đình ông Triệu tưởng đã lắng yên lại bỗng chốc dậy lên, râm ran suốt làng trên xóm dưới. Người ta bảo, anh chàng giăng câu đã có vợ, nhưng thỉnh thoảng vẫn lén lên bệnh viện để đút cháo cho cô Hai Dừa. Người ta bảo, vợ anh chàng giăng câu da đen răng vẩu. Người ta bảo, anh chàng giăng câu chạy nhanh hơn vợ… Người ta bảo, cái con mắm ấy đã xấu, còn đen, lại ghen khủng khiếp… Người ta bảo… Người ta bảo… Hậu thì bảo: Tôi là nghệ nhân, mà ông Triệu lại chơi nhiều kiểng, nên trước vẫn thường sang sửa thế giúp ông. Con bé Dừa tội lắm, tôi xem nó như em… Chuyện yêu của cô Hai Dừa đã xôn xao làng trên xóm dưới, thì chuyện cô lấy chồng lại càng khiến xóm dưới làng trên xôn xao. Giữa lúc cô Hai Dừa đang mong chết còn hơn là sống, đang tuyệt vọng, đang buông xuôi thì bỗng có một anh chàng tỏ ý sẽ rất lấy làm hãnh diện nếu được lấy cô làm vợ. Dù gì thì cô cũng một thời xinh tươi hơn hớn. Dù gì thì cô cũng là người đẹp nhất xóm Mai Vàng. Cô Hai Dừa nhận lời làm vợ mà dường như chưa kịp thấy lòng mình xao xuyến vì yêu. Đám cưới cô Hai được ông Triệu tổ chức qua loa, nhưng nhà trai lại rình rang đình đám, mời khắp cả làng. Hậu cũng được mời đi đưa dâu, tình cảm dửng dưng, mừng ít, lo nhiều. Sự đối đãi hết sức nhân hậu và đầy ắp tình thương của gia đình nhà chồng khiến cô Hai Dừa vô cùng cảm động. Nhiều đêm không ngủ được, cô ngồi dậy chong đèn nhìn chồng để cố mà yêu lấy những gì trước đây cô vẫn nghĩ là không thể nào yêu. Vẻ mặt hạnh phúc của cô khi cắp tay anh chồng xấu xí về thăm nhà khiến mọi người trầm trồ như muốn sẻ chia niềm hạnh phúc. Niềm hạnh phúc ngời lên trong mắt cô không ngờ lại khiến Hậu phải ghen tỵ và tiếc nuối. Hậu cảm thấy như mình đã sai lầm, để cho những định kiến bóp chết cả trái tim đang nồng thắm yêu thương. Là nghệ nhân cây kiểng mà Hậu đã không nhận ra rằng , chính những cây đã bị nhiều thương tích, đã tơi tả lá cành thì khi được đưa vào chậu mới là những cây đẹp. Đàn bà như cây dó, càng thương tích bao nhiêu thì lại càng dễ kết nên trầm quý bấy nhiêu. Cô Hai đi lấy chồng rồi, Hậu lại sang nhà ông Triệu thường hơn. Cả vườn kiểng giờ đã bị đem bán gần hết, chỉ còn lại những chậu nhỏ không được cắt tỉa nên cành lá cứ rườm rà không còn nhìn rõ là thế gì. Trên mảnh sân nhỏ rụng đầy xác lá, một già một trẻ vẫn hay ngồi uống rượu cùng nhau. Cái ly nhỏ sứt miệng đưa qua đưa lại nối từ đêm này qua đêm khác. - Hậu à, tao biết ngày xưa mày yêu con Hai nhà tao. Tại sao mày không chịu nói, để đến nỗi xảy ra cơ sự thế này? - Chú trách thì con chịu, chứ cô Hai Dừa nào có thích con đâu? - Mày nói sai rồi, Hậu à. Ban đầu nó thích mày lắm đó chớ, Cái chỗ sứt sẹo ấy cả hai cùng thấy, nhưng dường như chẳng ai nghĩ đến chuyện mua một cái khác về thay; vì dù rằng cái ly không lành lặn, họ vẫn có thể lựa chỗ mà uống để mỗi đêm về lại ngật ngưỡng tìm khuây.
Lạc Tánh, 31/12/2005
Lương Văn Lễ (Theo BLOG MÂY NGÀN) |