user login dang ky moi
Số :781/UBND-NC: V/v trả lời đơn tranh chấp đất và xin lại diện tích đất trống của ông Trần Ngọc Mầu, cư trú tại thôn Lạc Tín, thị trấn Lạc Tánh.
31.08.2007 15:06

UBND huyện Tánh Linh nhận được đơn của ông Trần Ngọc Mầu đề nghị giải quyết việc tranh chấp đất giữa ông với ông Trương Tam, bà Phạm Thị Quý và xin lại phần đất trống. Nội dung đơn của ông đã được UBND huyện ban hành Quyết định thành lập tổ công tác (Tổ 436) để kiểm tra, xác minh làm rõ; kết quả như sau:

1. Nội dung đơn:

Năm 1971, gia đình ông Trần Ngọc Mầu tạo lập được 5.000m2 đất, đã được chế độ cũ cấp tờ chứng khoán. Năm 1976 đã đưa vào Hợp tác xã (HTX) diện tích 2.500m2, số còn lại 2.500m2 HTX Lạc Hưng tạm thời trưng dụng để làm lò đường, nhà máy xay xát vào năm 1981; đến năm 1988, HTX không sử dụng nữa và trả lại cho gia đình ông, ông đã tiến hành đăng ký và được UBND xã Lạc Tánh cấp giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất ngày 23/5/1988. Đến năm 1995 thì vợ chồng ông Trương Tam và bà Phạm Thị Quý chiếm đoạt toàn bộ diện tích để bán cho nhiều người khác. Nay ông đề nghị giải quyết trả lại cho gia đình ông số diện tích đất trống và thu hồi toàn bộ diện tích ông Tam, bà Quý chiếm đoạt.

2. Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

* Lời trình bày của các bên tranh chấp:

- Ông Trần Ngọc Mầu trình bày như sau: Trước giải phóng, ông Trần Khiết (cha ông Trần Ngọc Mầu) cùng gia đình chị ruột là bà Trần Thị Tín (vợ trước của ông Trương Tam) mua chung 01 ha đất tại xã Lạc Tánh (nay là xóm 5, thôn Lạc Hưng 2, thị trấn Lạc Tánh). Sau khi mua, hai bên đã tự phân chia thành hai phần bằng nhau, phần của gia đình ông Trần Khiết (là cha) ở phía Nam, phần của bà Tín (là con) ở phía Bắc. Phần của gia đình ông đã được chế độ cũ cấp chứng khoán ngày 01/3/1973 mang tên Trần Khiết với diện tích 0,5 ha.

Gia đình ông sử dụng phần đất dưới kênh thủy lợi để làm ruộng, phần trên cao thì cấy lúa khô và làm hoa màu. Đến năm 1979, phần đất ngoài kênh thủy lợi hiện nay đưa vào HTX, còn diện tích đất phía trong kênh thủy lợi do gò cao không dẫn nước được nên UBND xã Lạc Tánh không đưa vào HTX mà để lại cho ông sử dụng trồng màu. Năm 1981, HTX Lạc Hưng trưng dụng phần đất ông đang canh tác này để làm nhà máy ép mía, nấu đường, từ năm 1982 thì sử dụng để làm nhà máy xay xát gạo. Năm 1988 nhà máy xay xát của HTX Lạc Hưng không hoạt động nữa, ông làm đơn lên UBND xã Lạc Tánh để xin lại diện tích đất này và được chấp thuận. Sau đó ông tiến hành đăng ký phần đất này và đã được UBND xã Lạc Tánh cấp giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất vào ngày 23/5/1988 với diện tích 2.500 m2. Sau khi được HTX trả lại, ông sử dụng phần đất này để làm hoa màu trong những tháng mưa, những tháng nắng bỏ trống. Lợi dụng việc này nên ông Trương Tam và bà Phạm Thị Quý ở sát khu đất của ông đã chiếm đoạt để cho con và bán cho những người khác.

- Bà Phạm Thị Quý trình bày: Trong tổng số 2.500m2 đất ông Mầu tranh chấp, bà chỉ sử dụng phần phía Bắc đường qua thôn Đồng Me, đất có nguồn gốc do cha đẻ của bà là ông Phạm Huyên khai phá, sử dụng từ năm 1975, diện tích khoảng 4.000m2. Đến năm 1990, ông Huyên chết, từ đó bà và các con bà là người tiếp tục sử dụng, hiện nay bà đã bán và cho con toàn bộ diện tích đất này. Trong số diện tích 4.000m2 này trước đây HTX Lạc Hưng có lấy một phần để làm nhà máy gạo, sau đó thì dừng hoạt động và và gia đình bà tiếp tục sử dụng. Riêng phần đất phía Nam đường qua thôn Đồng Me thì bà không liên quan.

- Ông Trương Tam trình bày: Năm 1971 có mua chung 01 ha đất với gia đình ông Mầu, nhưng từ sau giải phóng thì bỏ hoang. Trong phạm vi diện tích ông Mầu tranh chấp có hai phần (do có con đường qua thôn Đồng Me cắt ngang thửa đất). Phần phía Bắc đường qua thôn Đồng Me do ông Phạm Huyên (cha đẻ bà Quý) khai phá năm 1977, canh tác liên tục đến năm 1990 ông Huyên chết, bà Quý tiếp tục sử dụng. Phần phía Nam đường qua thôn Đồng Me do ông Tam tự khai phá sau giải phóng, hiện nay đã chuyển nhượng và cho con. Ông Tam cũng thừa nhận vị trí khu đất của ông Trần Khiết trước đây, hiện nay là của ông Trần Ngọc Mầu tranh chấp là đúng nhưng ranh giới hướng Bắc có xê dịch đôi chút (theo sơ đồ do ông Mầu cung cấp).

* Kết quả xác minh các nhân chứng:

- Ông Võ Tấn Truyện (Phó chủ nhiệm và Chủ nhiệm HTX Lạc Hưng giai đoạn 1980-1986) trình bày: Năm 1980, HTX có trưng dụng một phần đất để đặt lò ép đường tại khu đất tranh chấp, phần còn lại ông Mầu vẫn trồng lang và sau đó thấy ông Mầu canh tác nhiều năm.

- Ông Hồ Thanh Quýt (Chủ nhiệm HTX Lạc Hưng giai đoạn 1987-1991) trình bày: Năm 1981, HTX Lạc Hưng trưng dụng một phần đất của ông Khiết và ông Tam để làm lò đường (khu đất trên gồm 02 phần do ông Khiết và ông Tam mua chung năm 1971), phần còn lại ông Khiết, ông Tam và ông Phạm Huyên sử dụng trồng màu. Đến năm 1982, HTX chuyển sang làm nhà máy gạo và đã xây dựng một nhà gỗ lợp tôn khoảng 50m2, hoạt động đến năm 1987 thì tháo dỡ, trong thời gian từ 1982-1987 các hộ trên vẫn tiếp tục sử dụng. Từ năm 1987-1991, phần diện tích trên HTX không sử dụng mà để cho các hộ này canh tác.

- Ông Phạm Tổng (Chủ tịch UBND xã Lạc Tánh giai đoạn 1975-1983) xác nhận: Trước đây ông Khiết và bà Tín (vợ chính ông Tam) có mỗi người 05 sào đất giáp nhau tại xóm 5, thôn Lạc Hưng 2 hiện hay. Năm 1976, UBND xã đưa phần đất dưới kênh thủy lợi vào tập đoàn sản xuất, phần trên cao không lấy nước được để làm ruộng nên để lại cho 02 hộ làm cá thể. Năm 1981 có trưng dụng tạm thời một phần để làm lò đường, năm 1982 lò đường không hoạt động nữa thì HTX tiếp tục làm nhà máy gạo. Cũng trong năm 1982, ông Trần Ngọc Mầu có gởi đơn lên UBND xã xin lại trồng hoa màu nhưng UBND xã không giải quyết.

- Bà Phan Thị Phố, người sử dụng đất kế bên khu đất tranh chấp trình bày: Đã thấy gia đình ông Mầu sản xuất từ trước giải phóng, giai đoạn 1981-1988, HTX sử dụng làm lò đường và nhà máy xay xát gạo, sau năm 1988 thấy ông Mầu và ông Trương Trí sản xuất đến năm 1993.

- Ông Phan Xuyến, người sử dụng đất kế bên khu đất tranh chấp trình bày: Từ trước giải phóng đã thấy gia đình ông Mầu sử dụng, đến năm 1981, HTX sử dụng làm lò đường và nhà máy gạo, sau khi HTX không sử dụng nữa thì vẫn thấy ông Mầu và ông Trương trí sử dụng trồng khoai lang và điều.

- Ông Trương Trí (con ruột ông Trương Tam và bà Trần Thị Tín) trình bày như sau: Vì trước đây ông sống chung với ông Mầu nên trước năm 1990, ông thường đi theo phụ giúp ông Mầu canh tác trên diện tích đang tranh chấp hiện nay (ông Trương Trí là cháu ruột của ông Trần Ngọc Mầu, gọi ông Trần Ngọc Mầu bằng cậu ruột), từ năm 1991 đến năm 1993 chủ yếu là một mình ông Trí canh tác do ông Mầu đi chạy xe ôm. Cũng trong năm 1993, ông Tam và bà Quý hỏi ông mượn diện tích đất này nhưng ông Trí trả lời là đất này của cậu, muốn mượn thì phải gặp cậu để hỏi.

* Về giấy tờ có liên quan đến phần đất tranh chấp:

Ông Trần Ngọc mầu cung cấp 02 loại giấy tờ sau:

- 01 giấy Chứng khoán do chế độ cũ cấp ngày 01/3/1973 cho ông Trần Khiết, diện tích 0,5ha, số tờ KA178, số thửa 025724N.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất do UBND xã Lạc Tánh cấp ngày 23/5/1988, nội dung ghi tên ông Trần Ngọc Mầu, diện tích 2.500 m2, gồm 02 thửa (không có số thửa, tờ bản đồ).

Phía ông Trương Tam và bà Phạm Thị Quý không cung cấp được các loại giấy tờ có liên quan trực tiếp đến phần đất tranh chấp.

3. Kết quả kiểm tra hiện trạng:

Toàn bộ khu đất có diện tích 2.520m2 (có 583m2 thuộc hành lang bảo vệ đường bộ). Diện tích ông Tam, bà Quý đã chuyển nhượng và cho con là 1.627m2 (gồm 08 thửa, trong đó diện tích đã làm nhà, công trình xây dựng là 182m2). Diện tích đất trống là 893m2 (gồm 02 thửa).

Như vậy, diện tích đất tranh chấp là 1.627m2 (08 thửa) và diện tích đất còn trống ông Trần Ngọc Mầu xin được tiếp tục sử dụng là 893m2 (gồm 02 thửa).

Theo trình bày của ông Trần Ngọc Mầu thì vào thời điểm ông Tam, bà Quý bắt đầu bán đất (năm 1995), ông đã gởi đơn lên UBND xã Lạc Tánh, cán bộ địa chính xã đã yêu cầu ông không được tác động lên khu đất tranh chấp và ông đã chấp hành nhưng sau đó ông Tam, bà Quý vẫn tiếp tục chuyển nhượng, đến nay còn lại 02 thửa đất trống có diện tích 893m2.

Từ kết quả xác minh nêu trên cho thấy:

- Vị trí, diện tích: Khu đất ông Trần Ngọc Mầu khiếu nại, tranh chấp có diện tích 2.520m2. Trong đó: Diện tích tranh chấp với ông Trương Tam và bà Phạm Thị Quý là 1.627m2, diện tích đất trống là 893m2. Vị trí khu đất tại xóm 5, thôn Lạc Hưng 2, thị trấn Lạc Tánh.

- Nguồn gốc đất: Do ông Trần Khiết (cha ông Mầu, đã chết năm 2000) tạo lập từ năm 1971 và đã được chế độ cũ cấp tờ Chứng khoán năm 1973; ngày 23/5/1988, được UBND xã Lạc Tánh cấp Giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất mang tên ông Trần Ngọc Mầu, diện tích 2.500m2 (gồm 02 thửa).

- Quá trình sử dụng: Từ năm 1976 đến năm 1981, gia đình ông Mầu có trực tiếp sản xuất hoa màu trên diện tích này, giai đoạn 1981-1988, HTX Lạc Hưng có trưng dụng để làm nhà máy ép đường, xay xát gạo, đến năm 1988 thì HTX không sử dụng nữa và gia đình ông Mầu tiếp tục sử dụng. Sau năm 1993, ông Tam, bà Quý (nhà ở sát khu đất) đã sử dụng đất này để tặng cho, chuyển nhượng cho 08 hộ gia đình, cá nhân với diện tích 1.627m2.

Căn cứ kết quả xác minh và các quy định của pháp luật về đất đai, Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh trả lời nội dung đơn tranh chấp đất và xin được sử dụng phần đất trống của ông Trần Ngọc Mầu như sau:

+ Công nhận cho hộ ông Trần Ngọc Mầu được tiếp tục sử dụng diện tích 893m2 đất trống. Đề nghị ông Trần Ngọc Mầu liên hệ với UBND thị trấn Lạc Tánh để được hướng dẫn các thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Việc đăng ký mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất của địa phương;

+ Phần diện tích 1.627m2 đất tranh chấp với ông Trương Tam và bà Phạm Thị Quý không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Tánh Linh, do phần đất này có những giấy tờ liên quan sau: Được chế độ cũ cấp tờ Chứng khoán năm 1973 và UBND thị trấn Lạc Tánh cấp Giấy chứng nhận đăng ký ruộng đất năm 1988; đề nghị ông Trần Ngọc Mầu thực hiện quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh để được giải quyết (theo quy định tại Khoản 1, Điều 136 Luật Đất đai năm 2003).

Trên đây là nội dung trả lời của Chủ tịch UBND huyện Tánh Linh đối với đơn tranh chấp đất và xin được tiếp tục sử dụng diện tích đất trống của ông Trần Ngọc Mầu, cư trú tại thôn Lạc Tín, thị trấn Lạc Tánh.

Chủ tịch
Phạm Ngọc Chính



(Theo Tánh Linh)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email




Những bản tin khác:



 Lịch vạn sự 
Tháng
Năm 

Danh ngôn:
Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Bác Hồ
 Đăng nhập gởi bài viết 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Kiến thức nhà nông 
 Danh ngôn 
Hạnh phúc:

Muốn hiểu thế nào là Tình Yêu và Hạnh Phúc, phải biết sống cho kẻ khác, nghĩa là phải biết yêu.
Godwin
 Bài viết nổi bật