Giảm nghèo huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010 .....(Phần 2)
04.06.2007 19:34
(Phần II) PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO, ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ HỖ TRỢ CẢI THIỆN NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO ĐẾN NĂM 2010 (Quyết định số 04/2007/QĐ-UBND ngày 22/3/2007 của UBND huyện Tánh Linh)
Phần I Phần II PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁPCÔNG TÁC GIẢM NGHÈO, ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNGVÀ HỖ TRỢ CẢI THIỆN NHÀ Ở CHO NGƯỜI NGHÈO ĐẾN NĂM 2010 Để tiếp tục quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tánh Linh lần thứ VI, coi công tác giảm nghèo từ nay đến năm 2010 là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Cần đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp sau: I. PHƯƠNG HƯỚNG Đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhằm ổn định và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giảm hộ nghèo, tăng hộ khá và giàu; thực hiện giảm nghèo bền vững, tránh tình trạng tái nghèo; trong quá trình thực hiện phải đảm bảo định hướng: - Giảm nghèo là một trong các chương trình quốc gia mang tính xã hội sâu sắc; vì vậy, đi đôi với phát triển kinh tế, phải đặc biệt quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội gắn với giảm nghèo; - Giảm nghèo là trách nhiệm của toàn xã hội. Vì vậy, một mặt cần phát huy tối đa năng lực; đồng thời, động viên cả cộng đồng đầu tư hỗ trợ xã nghèo, thôn nghèo; Giảm nghèo theo chương trình, dự án nhưng có tập trung trọng điểm, ưu tiên giải quyết cho các xã nghèo, thôn nghèo, hộ nghèo thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc ít người. II. MỤC TIÊU GIẢM NGHÈO ĐẾN NĂM 2010 1. Mục tiêu chung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, bảo đảm tập trung các nguồn lực kinh tế, để giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, hộ rất nghèo. Nâng cao vai trò hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể trong việc hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn… Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, nhằm tạo việc làm cho người nghèo có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống và dần rút gần khoảng cách giữa người nghèo với người giàu. 2. Mục tiêu cụ thể: - Phấn đấu đến năm 2010, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện xuống dưới 5%, bình quân hàng năm giảm 2,64%/năm (khoảng 526 hộ). Tập trung giải quyết cơ bản không còn hộ rất nghèo và hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công; giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo tại các xã có thôn nghèo (Tà Pứa - Đức Phú, thôn Dân tộc - Đức Bình, Đồng Me - Đức Thuận, thôn Chăm, Trà Cụ - Lạc Tánh, thôn Dân tộc - Suối Kiết, thôn 2 - Gia Huynh), xã thuần dân tộc thiểu số (La Ngâu, Măng Tố) và các xã nghèo của tỉnh (Đức Bình, Đức Thuận); - Tập trung phát triển kinh tế - xã hội bằng nhiều nguồn vốn Trung ương, tỉnh để đầu tư cho các xã nghèo, các thôn nghèo; phấn đấu đến năm 2010, huyện giảm 01 xã nghèo, 02 thôn nghèo; - Đến năm 2010, các xã nghèo thuộc Chương trình 135 và các xã có thôn nghèo xen ghép cơ bản có đủ các công trình hạ tầng cơ sở như: thủy lợi nhỏ (những nơi có điều kiện phát triển), điện sinh hoạt, phòng học mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, đường dân sinh, nước sinh hoạt, khai hoang đất sản xuất để cấp cho hộ nghèo, phân trạm y tế khang trang và có đủ thuốc thiết yếu chữa bệnh cho người nghèo…; - Đẩy mạnh việc vận động hỗ trợ, xây dựng sửa chữa nhà tình thương cho hộ nghèo. Phấn đấu đến năm 2010, 100% số hộ nghèo có nhà tạm, dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện về nhà ở; Dự kiến đến năm 2010, chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người đối với hộ nghèo tăng 2,5 lần so với thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo năm 2005; - Trong 5 năm, dự kiến tập trung cho khoảng 2.500 lượt hộ nghèo được vay vốn để xóa đói giảm nghèo với số tiền vay trung bình từ 5 - 10 triệu đồng. III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP 1. Tập trung phát triển kinh tế xã hội, trong đó, coi trọng phát triển kinh tế nông thôn; phát huy tối đa tiềm lực đất đai, rừng và nhu cầu về vốn để nhân dân phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, mở các ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp, ngành, nghề truyền thống… Kết hợp sản xuất nông - lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn nhằm giải quyết việc làm cho người lao động. Xây dựng chính sách hỗ trợ trực tiếp về vốn ưu đãi tín dụng hộ nghèo, đẩy mạnh công tác khuyến nông - lâm - ngư nghiệp, hướng dẫn cách làm ăn, xây dựng các mô hình trình diễn để nhân rộng. Khuyến khích hình thành tổ chức hợp tác sản xuất tự nguyện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 2. Tổ chức xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo nghề hàng năm cho người lao động gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, vùng dân cư. Tập trung đào tạo nghề cho người lao động; trong đó, coi trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhất là lao động nghèo; đào tạo ngắn hạn các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế, chế biến và bảo quản các sản phẩm nông, lâm, ngư và các ngành, nghề truyền thống. 3. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ giảm nghèo: a) Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: - Mục đích xây dựng nhằm để phát triển sản xuất, ổn định đời sống tạo điều kiện phát triển các dịch vụ để giảm nghèo một cách bền vững; - Nội dung và phạm vi hoạt động ngoài các xã nghèo nằm trong chương trình, huyện sẽ đầu tư vào các thôn nghèo như: Tà Pứa - Đức Phú, thôn Dân tộc - Đức Bình, Đồng Me - Đức Thuận, thôn Chăm, Trà Cụ - Lạc Tánh, thôn Dân tộc - Suối Kiết, thôn 2 - Gia Huynh; bao gồm, đường giao thông, điện, trường học, phân trạm y tế, nước sạch nông thôn, các công trình thủy lợi nhỏ. Phấn đấu đến năm 2010, có đủ các công trình đáp ứng các thôn và xã nghèo, khối lượng các công trình cần đầu tư: + Nước cho sản xuất: Chương trình kiên cố hóa kênh mương Suối Cát là 5.897 triệu đồng và Trạm bơm Đức Phú là 10.833 triệu đồng, từ nguồn tín dụng ưu đãi cho Chương trình kiên cố hóa kênh mương để đảm bảo tưới cho 4.256ha tại các địa phương của huyện; + Giao thông nông thôn: chuẩn bị làm mới và nâng cấp đường giao thông các loại; trong đó, cần chú trọng đường giao thông liên thôn với kết cấu công trình chủ yếu là đường cấp phối với tổng số vốn là 7.150 triệu đồng từ nguồn ngân sách tập trung; + Nước sinh hoạt: xây mới hệ thống nước sạch 03 thôn dân tộc của xã Đức Bình, Đức Thuận và Đức Phú là 3.000 triệu đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án lớn; + Điện sinh hoạt: lắp đặt hệ thống điện 0,4KV trên địa bàn huyện là 340 km, với tổng số tiền là 27.000 triệu đồng và trạm biến áp trên địa bàn huyện 100 cái, với tổng số vốn là 5.000 triệu đồng, để 100% hộ trên toàn huyện được sử dụng điện; Trường học: xây mới 116 lớp học, gồm hệ phổ thông, mẫu giáo tại các thôn, xã nghèo, với tổng số vốn là 18.000 triệu đồng từ nguồn ngân sách tập trung; Y tế: nâng cấp các trạm y tế tại các xã như Đức Tân, Suối Kiết, Đồng Kho, Đức Bình, Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Đức Thuận, Đức Phú với tổng số vốn là 42.300 triệu đồng. b) Hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề: Mục đích là hỗ trợ tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người nghèo; Nội dung chính của hoạt động này là hỗ trợ đầu tư khai hoang, mở rộng diện tích sản xuất, đảm bảo cho các hộ nghèo có nhu cầu sử dụng đất. Khuyến khích và hỗ trợ ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp nhằm tạo việc làm tại chổ, nhu cầu giải quyết việc làm cho hộ nghèo ở cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp khu vực Bắc Sông, Nam Sông và làng nghề gạch ngói Gia An với năng lực thiết kế là 160ha với 16.900 triệu đồng từ nguồn tín dụng ưu đãi; - Từng địa phương chủ động cân đối quỹ ruộng đất, tranh thủ vốn từ các chương trình, dự án, đảm bảo người nghèo có đủ đất sản xuất; - Khuyến khích và hỗ trợ các ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp (mây, tre, đan lát, đồ mỹ nghệ, mộc dân dụng…) nhằm tạo việc làm tại chổ cho người nghèo, người không có việc làm. c) Tín dụng cho người nghèo:Mục đích của hoạt động là bảo đảm cho 2.500 lượt hộ nghèo được vay vốn, mức vay từ 5 - 10 triệu đồng, thời hạn vay tối đa là 3 năm với lãi xuất ưu đãi không phải thế chấp; d) Hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo và khuyến nông: - Mục đích là trợ giúp 100% hộ nghèo có kiến thức làm ăn, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi; - Nội dung hướng dẫn cách làm ăn là mở các lớp khuyến nông ở từng thôn, xã phù hợp với trình độ nắm bắt của nhân dân: + Khuyến nông: 70 lớp; Nhu cầu kinh phí: 120 triệu đồng. e) Công tác định canh, định cư và kinh tế mới:Bố trí ổn định chổ ở cho các hộ dân nghèo sớm ổn định cuộc sống, ngăn ngừa tình trạng tái du canh; trục xuất dân di cư tự do đến xâm canh đất lâm nghiệp trái phép; f) Hỗ trợ người nghèo về giáo dục: - Mục đích là nhằm hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo về giáo dục, nhằm xóa bỏ tình trạng bỏ học của các em học sinh con hộ nghèo, tạo điều kiện để người nghèo phổ cập tiểu học; - Miễn giảm học phí và đóng góp xây dựng trường đối với học sinh nghèo học phổ thông các cấp, cấp vở, viết, dụng cụ học tập và sách giáo khoa, lương thực cho học sinh dân tộc thuộc khu vực III theo chính sách hiện hành. g) Hỗ trợ người nghèo về y tế: - Thực hiện tốt các dịch vụ y tế, ưu tiên giải quyết các trang thiết bị cần thiết và thuốc thiết yếu cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng dân tộc ít người để khám chữa bệnh, đặc biệt ưu tiên hộ nghèo thuộc diện chính sách có công cách mạng; - Đảm bảo cho người nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình của nhân dân các xã nghèo, vùng cao, đặc biệt khó khăn thông qua việc tăng cường cung cấp thông tin, tư vấn; - Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm y tế, xóa bỏ bao cấp trong cơ chế quản lý bảo hiểm y tế, khuyến khích các nhà hảo tâm, các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng các cơ sở khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. 4. Hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người nghèo: - Đẩy mạnh cuộc vận động quỹ “Ngày vì người nghèo” đối với cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trên địa bàn huyện, phấn đấu mỗi năm thu đạt từ 260 - 280 triệu đồng để đáp ứng nhu cầu chi của nhiệm vụ này. Bên cạnh đó, cần ngân sách của Trung ương và tỉnh để cải thiện nhà ở cho hộ nghèo; - Việc hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người nghèo theo hướng Nhà nước sẽ hỗ trợ những vật liệu xây dựng chủ yếu như: xi măng, tôn lợp, gạch,… cùng với sự giúp đỡ về nhân công của nhân dân và các tổ chức, đoàn thể ở huyện cũng như ở địa phương và trách nhiệm tự đóng góp của người nghèo. Riêng đối với việc xây dựng mới nhà ở cho hộ nghèo, phải được xây dựng trên đất thổ cư có giấy chứng nhận QSDĐ của gia đình đó; - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội nghiên cứu, triển khai thực hiện việc cho vay xây dựng, sửa chữa và mua nhà ở cho người nghèo, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng nhà ở cho nhân dân, giúp đỡ người nghèo từng bước ổn định cuộc sống và an tâm sản xuất. 5. Từng xã, thị trấn phải có kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo cụ thể, xem đây là tiêu chí để xét đơn vị trong sạch, vững mạnh. 6. Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo: - Mục đích là nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động chương trình, tổ chức triển khai các giải pháp giảm nghèo đối với cán bộ cấp huyện. Nâng cao năng lực tuyên truyền và tổ chức thực hiện với cán bộ phụ trách giảm nghèo cấp xã, thị trấn; - Nội dung của hoạt động này là tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện, xã, thị trấn và cán bộ thôn. 7. Thực hiện các biện pháp trợ cấp xã hội đối với người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, già cả neo đơn không nơi nương tựa, người tàn tật nặng không thể tự lao động được và không có người bảo trợ. Tổ chức cứu đói đột xuất, giáp hạt do thiên tai, hỏa hoạn kịp thời, đúng đối tượng. Thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước cho những vùng thuộc khu vực III, đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với nhu cầu sản xuất đời sống của người nghèo. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 1. Tăng cường cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo ở xã, thị trấn có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, tập trung củng cố Ban chỉ đạo giảm nghèo ở địa phương và huyện. Tăng cường năng lực hoạt động của Ban chỉ đạo trên cơ sở đảm bảo sự thống nhất quản lý và phân công trách nhiệm cụ thể của từng thành viên. Đưa các đồng chí có năng lực và nhiệt tình trong Ban chỉ đạo phụ trách các xã nghèo, thôn nghèo. 2. Huy động sự đóng góp của cộng đồng thông qua quỹ hỗ trợ người nghèo ở từng cấp, nhất là ở xã, thị trấn. Phát động phong trào đóng góp quỹ vì người nghèo bằng một ngày lương. - Tranh thủ các nguồn vốn của Trung ương, tỉnh và các tổ chức khác, thực hiện mục tiêu giảm nghèo, thông qua các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội hỗ trợ cho người nghèo vươn lên trong đời sống vật chất và tinh thần; - Tích cực và chủ động lồng ghép chương trình giảm nghèo với các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và chương trình mục tiêu khác nhằm tăng nguồn vốn đầu tư cho công tác giảm nghèo. 3. Xây dựng và ban hành một số biện pháp cụ thể liên quan đến giảm nghèo như: - Quỹ hỗ trợ người nghèo; - Tăng cường cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo cho các xã nghèo; - Cung ứng dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, khuyến khích đầu tư các ngành, nghề truyền thống nông thôn. 4. Phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bằng các phong trào hoạt động cụ thể, thiết thực của tổ chức mình; trước hết, nhằm tuyên truyền giáo dục ý thức tự vươn lên giảm nghèo trong các tầng lớp nhân dân lao động, hội viên, đoàn viên; từ đó, đẩy mạnh các hoạt động tương trợ giúp giảm nghèo với nhiều hình thức phong phú và đa dạng. 5. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Chương trình giảm nghèo, động viên nhân dân tích cực thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. 6. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, trong quá trình xây dựng triển khai và tổ chức thực hiện Chương trình giảm nghèo, bảo đảm công bằng xã hội nhất là việc thực hiện các dự án vay vốn và chính sách đầu tư giảm nghèo phải có trọng tâm, đúng đối tượng và mang lại hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội. 7. Gắn với việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 - 2010, đẩy mạnh sản xuất lương thực, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với các mô hình trang trại, thâm canh, tăng vụ tạo ra khối lượng hàng hóa có giá trị; đồng thời, tích cực thực hiện công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội. V. PHÂN CÔNG CÁC NGÀNH CHứC NĂNG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIẢM NGHÈO 1. Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội: Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo chủ trì phối hợp cùng với các ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn triển khai các nội dung sau: - Điều tra, khảo sát, phân loại, xác định nguyên nhân từng hộ nghèo; - Kiểm tra, đôn đốc các xã, thị trấn lập danh sách đối tượng được cấp thẻ BHYT; - Tham mưu cho UBND huyện rà soát gia hạn và thu hồi giấy chứng nhận hộ nghèo; - Tham mưu, đề xuất thực hiện các chủ trương, chính sách đối với hộ nghèo, thôn nghèo và có giải pháp để đầu tư kinh phí có hiệu quả trong việc thực hiện giảm nghèo. 2. Phòng Nông nghiệp - PTNT và Phòng Hạ tầng - Kinh tế: - Tham mưu cho UBND huyện thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn và thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề; - Thực hiện tốt các chương trình dự án đầu tư của Trung ương, tỉnh như Chương trình 135, định canh định cư… 3. Phòng Tài chính - Kế hoạch:Phối hợp cùng với Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội xác định nguồn vốn, hướng dẫn việc thống nhất quản lý tài chính, chế độ thanh tra, quyết toán các nguồn vốn đầu tư giảm nghèo, chỉ đạo và tổ chức chặt chẽ việc cấp phát kinh phí, sử dụng đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ chính sách và kịp thời theo kế hoạch hàng năm. 4. Ngân hàng Chính sách xã hội:Chủ động khai thác nguồn vốn và tổ chức thực hiện Chương trình Tín dụng hỗ trợ người nghèo theo kế hoạch hàng năm. Thực hiện việc cải tiến thủ tục vay tín dụng và chính sách đối với hộ nghèo, xã nghèo, xử lý kịp thời những vụ việc chiếm dụng vốn và dây dưa kéo dài, nâng hệ số vòng quay của vốn ngân hàng phục vụ người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo có vốn phát triển sản xuất. 5. Trung tâm Y tế huyện: - Quản lý quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo, xây dựng cơ chế giúp người nghèo trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu, đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe; - Thực hiện các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe, sinh sản kế hoạch hóa gia đình, xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ y tế cơ sở để nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh tại các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 6. Phòng Giáo dục:Xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế và kế hoạch về giáo dục, đào tạo đối với học sinh thuộc hộ nghèo theo quy định hiện hành của Nhà nước; thực hiện việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học để tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở cho người nghèo. 7. Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện: Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong nhân dân về thực hiện chủ trương giảm nghèo; đặc biệt là giáo dục hộ nghèo về ý thức tự vươn lên thoát nghèo, không chấp nhận đói nghèo, những cách làm hay trong xóa đói giảm nghèo. 8. Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em huyện:Xây dựng chính sách, cơ chế và kế hoạch hỗ trợ hộ nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số về công tác kế hoạch hóa gia đình .9. Cấp ủy, UBND các xã, thị trấn:Xây dựng nghị quyết chuyên đề về công tác giảm nghèo tại địa phương mình; xây dựng kế hoạch và tổ chức quán triệt cụ thể hóa thành chương trình hành động và lãnh đạo việc tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo trên địa bàn. 10. UBMT Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, hội quần chúng: Xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, người lao động tiếp tục đẩy mạnh việc vận động xây dựng quỹ “Ngày vì người nghèo” và những vật liệu khác để xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người nghèo. Đẩy mạnh các phong trào trợ giúp nhau phát triển sản xuất, đời sống, phân công đoàn viên, hội viên trực tiếp giúp đỡ hộ nghèo. 11. Chế độ thông tin, báo cáo: Định kỳ 06 tháng, năm, các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể có trách nhiệm tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện công tác giảm nghèo về UBND huyện (thông qua Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội) để theo dõi, chỉ đạo. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH Phạm Ngọc Chính
(Theo Tánh Linh) |