user login dang ky moi
Giảm nghèo huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010 .....(phần I)
21.05.2007 22:06

CHƯƠNG TRÌNH
Giảm nghèo huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2007/QĐ-UBND
ngày 22/3/2007 của UBND huyện Tánh Linh)
(Phần I)

ỦY BAN NHÂN DÂN      CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TÁNH LINH                  Độc lập - Tự do - Hạnh phúc     

 CHƯƠNG TRÌNH

Giảm nghèo huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2007/QĐ-UBNDngày 22/3/2007 của UBND huyện Tánh Linh)

Phần I

KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÔNG TÁC XÓA ĐÓI,GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2001 – 2005

I. Tình hình chung

1. Đặc điểm tình hình:

Tánh Linh là một huyện miền núi với diện tích tự nhiên 117.422 ha, hơn 70% dân số sống bằng ngành nông nghiệp. Toàn huyện có 14 xã, thị trấn trong đó có 06 xã vùng cao và 04 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135, với gần 11% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số (Châuro, Rơglai, Nùng, Tày…). Với vị trí: Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Nam giáp Hàm Thuận Nam, Tây giáp Đức Linh và Đông giáp Hàm Thuận Bắc, là huyện miền núi giáp với các tỉnh Tây Nguyên; từ đó, các loại hàng hóa nông - lâm sản, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng có thể giao lưu với các vùng đồng bằng ven biển và các tỉnh phía Nam.

2. Dân số - Lao động:

a) Dân số: Theo số liệu thống kê ngày 31/12/2004 dân số toàn huyện gồm:

Dân số: 101.810 người với 20.604 hộ:

- Nam: 51.244 người, chiếm 50,33% dân số;

- Nữ: 50.566 người, chiếm 49,67% dân số

* Chia theo khu vực:

- Thành thị: 15.998 người/3.121 hộ, chiếm 15,71% dân số;

- Nông thôn: 85.812 người/17.483 hộ, chiếm 84,29% dân số.

* Chia theo dân tộc

- Dân tộc Kinh: 91.234 người/18.574 hộ, chiếm 89,61% dân số;

- Dân tộc thiểu số: 10.576 người/2.030 hộ, chiếm 10,39% dân số.

b) Lao động trong độ tuổi: 51.184 người, chiếm tỷ lệ 50,27% dân số;

- Nam: 26.112 người, chiếm 51,01% số người trong độ tuổi lao động;

- Nữ: 25.072 người, chiếm 48,99% số người trong độ tuổi lao động.

* Chia theo khu vực:

- Thành thị: 8.047 người, chiếm 15,72% số người trong độ tuổi lao động;

- Nông thôn: 43.137 người, chiếm 84,28% số người trong độ tuổi lao động.

II. Kết quả xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005

1. Tình hình triển khai thực hiện:

- Quán triệt những quan điểm chủ trương xóa đói giảm nghèo của Thường vụ Tỉnh ủy, Nghị quyết của HĐND tỉnh, Thường vụ Huyện ủy ban hành Nghị quyết số 28-NQ/HU về xóa đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người nghèo đến năm 2005. Nghị quyết của HĐND huyện xác định chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; về tư tưởng chỉ đạo thông qua các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, các xã đặc biệt khó khăn; nâng cao dân trí cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ý thức tự vươn lên khắc phục tư tưởng ỷ lại, trông chờ sự hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời, thực hiện các hình thức ban đầu như vay vốn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn tạo điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất, tăng mức thu nhập nhằm ổn định cuộc sống người nghèo;

- Hàng năm, Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo huyện đều tiến hành Hội nghị tổng kết và đề ra chỉ tiêu kế hoạch giảm hộ nghèo hàng năm. Để thực hiện theo chỉ tiêu đề ra Ban chỉ đạo tiến hành phân công từng thành viên phụ trách từng địa bàn, nhất là các xã nghèo thuộc Chương trình 135. Bên cạnh đó, tăng cường các hoạt động trợ giúp của các ngành chức năng như: Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Hạ tầng - Kinh tế, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm quản lý các nguồn vốn vay, xây dựng cơ sở hạ tầng và các biện pháp giúp người nghèo vươn lên trong cuộc sống. Hàng quý của từng năm, Ban chỉ đạo tiến hành họp kiểm điểm, đánh giá từng thành viên phân công, để kịp thời đề ra những biện pháp có hiệu quả trong vấn đề xóa đói giảm nghèo;

- Về vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội để phối hợp với chính quyền địa phương điển hình là: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh bằng các phong trào hoạt động cụ thể, thiết thực của tổ chức mình đã tuyên truyền vận động trong  nhân dân, người lao động nên tập hợp được đông đảo người lao động, hội viên cốt cán của các đoàn thể dấy lên phong trào tương thân, tương ái, giúp nhau làm kinh tế gia đình như chuyển đổi mô hình làm ăn có hiệu quả kinh tế cao, vòng quay vốn nhanh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm… Từ đó, đưa gương những người tốt, việc tốt, gương điển hình sản xuất giỏi vươn lên thoát nghèo, nhằm nâng cao ý thức cho mỗi gia đình; qua đó, đa số các gia đình hộ nghèo đã từng bước hòa nhập với cộng đồng dân cư và tích cực tham gia các tổ chức quần chúng tự nguyện vào các tổ liên doanh vay vốn tín dụng, tổ góp vốn chi hội. Điều đó, khẳng định chủ trương xóa đói giảm nghèo đang được nhân dân đồng tình ủng hộ.

2. Kết quả xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 - 2005:

Thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo và chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Trong 05 năm qua, bằng nhiều biện pháp tích cực và đồng bộ, hộ đói nghèo chiếm 17,30% năm 2001 xuống còn 5% cuối năm 2005, bình quân mỗi năm giảm 2,46% (tương ứng giảm bình quân hàng năm là 429 hộ).

Thông qua các dự án, chính sách và các chương trình lồng ghép được thực hiện đồng bộ và đạt kết quả tốt như chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã thuộc Chương trình 135, nguồn vốn tín dụng ưu đãi hộ nghèo, dự án của các đoàn thể, nguồn vốn Ban chỉ đạo 120 của huyện và các chương trình hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn thông qua các lớp tập huấn và xây dựng các mô hình thí điểm tại các xã, thị trấn, chính sách trợ giá, trợ cước cho đối tượng thuộc khu vực III, đồng bào dân tộc thiểu số… Từ năm 2001 đến nay, đã đạt được một số kết quả sau:

- Chương trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã: Gia Huynh, Suối Kiết, La Ngâu, Măng Tố thuộc Chương trình 135 đã đầu tư trực tiếp với tổng kinh phí là 31,401 tỷ đồng, tập trung chủ yếu các lĩnh vực sau:

+ Điện - nước: 2.982 triệu đồng, chiếm 9,50%;

+ Giao thông, thủy lợi: 6.290 triệu đồng, chiếm 20,03%;

+ Giáo dục - y tế: 7.763 triệu đồng, chiếm 24,72%;

+ Công trình phúc lợi công cộng, nhà làm việc, nhà ở, cấp đất sản xuất: 14.366 triệu đồng, chiếm 45,75%.

- Ngân hàng phục vụ người nghèo đến nay đã cho 2.831 lượt hộ vay với 40.940 triệu đồng với lãi xuất 0,5%, các nguồn vốn này tập trung cho hộ nghèo vay với mức bình quân là 4.500.000 - 5.000.000 đồng/hộ;

- Nguồn vốn BCĐ 120 của huyện cho vay các dự án nhỏ, nhằm giải quyết cho người lao động, đến nay tổng số vốn giải ngân 1.625 triệu đồng cho 293 hộ vay để giải quyết việc làm cho các lao động;

- Hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn: nhằm đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận khoa học - kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và chăn nuôi, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế tăng năng suất cây trồng vật nuôi để tạo thu nhập ổn định; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông đã phối hợp với các tổ chức, đoàn thể mở 70 lớp tập huấn và các lớp chuyển giao kỹ thuật về trồng trọt và chăn nuôi cho 520 lượt hộ nghèo thuộc dân tộc Kinh và thiểu số để họ tích lũy được kinh nghiệm trong sản xuất và chăn nuôi đạt hiệu quả thiết thực, từ đó, tạo được cuộc sống ổn định trước mắt và lâu dài;

- Hỗ trợ đất sản xuất cho 1.383 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, bình quân 1,74 ha/hộ theo Nghị định số 01 của Chính phủ ở các xã Gia Huynh, Suối Kiết, Đức Bình, Măng Tố và thị trấn Lạc Tánh;

- Cấp thẻ BHYT cho 9.693 lượt người thuộc diện hộ nghèo để khám chữa bệnh miễn phí theo quy định của Nhà nước;

- Chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo: xuất phát từ tinh thần tương thân tương ái “Lá lành đùm lá rách” và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc của nhân dân ta. Trong 5 năm qua, Ban vận động quỹ “Ngày vì người nghèo” đã vận động nhân dân toàn huyện đóng góp; đồng thời, với nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh, đã tiến hành xây mới và sửa chữa 184 căn nhà cho người nghèo. Bên cạnh đó, thực hiện Kế hoạch 1323 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc hỗ trợ hộ nghèo đang gặp khó khăn về nhà ở năm 2005, UBND huyện đã ra quyết định hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trong năm 2005 với tổng số 780 căn nhà; trong đó, dân tộc thiểu số 638 căn nhà, dân tộc Kinh 142 căn nhà với tổng số tiền là 5.871 triệu đồng.

3. Đánh giá tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo:

a) Những mặt làm được:

- Quán triệt những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, UBND huyện xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của huyện;

- Quá trình triển khai thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, các ban ngành, tổ chức đoàn thể huyện cũng như ở các địa phương đã triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 135, Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, Chương trình phòng chống tệ nạn xã hội… đã lồng ghép với Chương trình xóa đói giảm nghèo và Chương trình giải quyết việc làm, nên tập trung được nguồn vốn xóa đói giảm nghèo ở từng xã, thị trấn nhất là vốn đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng và vốn tín dụng ưu đãi hộ nghèo tạo cơ sở động lực thúc đẩy và hỗ trợ người nghèo tự vươn lên trong cuộc sống từ đó giảm dần tình trạng đói nghèo;

- Các chương trình, dự án, chính sách xóa đói giảm nghèo đã được các ngành, các cấp triển khai đồng bộ từ hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất (vốn, kinh nghiệm, kiến thức làm ăn) đến hỗ trợ đời sống (khám chữa bệnh, giáo dục, y tế…) cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, các tổ chức, mặt trận, đoàn thể đã nhanh chóng nắm bắt, quán triệt, phổ biến chủ trương xóa đói giảm nghèo trong các tầng lớp nhân dân; tích cực vận động, tổ chức và phát triển mạnh các phong trào: phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình; nông dân giúp nhau sản xuất giỏi; thanh niên lập nghiệp; tổ vay vốn; người giàu giúp người nghèo….Nhờ vậy mà công tác xóa đói giảm nghèo có tác dụng tích cực, số hộ nghèo giảm đáng kể và tương đối vững chắc, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo.  

b) Tồn tại vướng mắc và nguyên nhân:

- Qua 05 năm thực hiện Chương trình Xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 bình quân mỗi năm giảm 2,46% (tương ứng giảm bình quân hàng năm là 429 hộ).Một số địa phương tình hình giảm nghèo thiếu vững chắc. Bên cạnh đó, tình hình thiếu đói do thiên tai, hạn hán, dân di cư tự do, sự chủ quan của người nghèo, cơ chế chính sách;

 - Hiện nay, số hộ là đồng bào dân tộc thiểu số trên toàn huyện chiếm khoảng 11% hầu hết đều thuộc diện nghèo. Những năm gần đây, được sự hỗ trợ các chương trình Nhà nước về vốn, giống cây trồng, vật nuôi, chính sách trợ cước, trợ giá và ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất bước đầu họ đã làm ra sản phẩm có thu nhập nhưng không có tích lũy trong tiêu dùng. Bên cạnh đó, tập quán sinh hoạt và sản xuất lạc hậu vẫn còn diễn ra trong đời sống thường ngày của họ;

- Việc tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ người nghèo hiệu quả chưa cao, cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho sản xuất ở một số địa phương tuy được đầu tư nhưng chưa phát huy công suất, hiệu quả chưa cao;

- Việc quán triệt nghị quyết của Thường vụ Huyện ủy về chủ trương xóa đói giảm nghèo ở nhiều cấp ủy địa phương chưa sâu, chưa đầy đủ nên trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chưa có nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động, từ đó thiếu cơ sở cho công tác lãnh đạo, triển khai và kiểm tra việc thực hiện;

- Trong chỉ đạo, triển khai thực hiện một số ngành, địa phương vừa thiếu tập trung, vừa thiếu chiến lược tổng thể, vừa thiếu cách thức tiến hành cụ thể. Có nơi gần như coi đây là nhiệm vụ của ngành chuyên môn hay giao phó cho đoàn thể chỉ đạo chung chung;

- Năng lực lãnh đạo của cán bộ các xã vùng cao, miền núi còn thấp, thiếu cán bộ chuyên trách làm công tác xóa đói giảm nghèo nên nắm bắt tình hình không chắc; không đề xuất được biện pháp chỉ đạo, điều hành cụ thể trong việc triển khai thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo;

- Nhận thức của một bộ phận dân cư nghèo còn hạn chế, chưa nỗ lực phấn đấu để vươn lên, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội.

c) Bài học kinh nghiệm:

- Tăng cường, củng cố và nâng cao năng lực hoạt động của Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo của UBND các xã, thị trấn. Phân công trách nhiệm từng thành viên bám sát địa bàn thôn, xóm, nắm bắt kịp thời, vận động giúp đỡ, hướng dẫn về kinh nghiệm làm ăn, hỗ trợ vốn sản xuất, giúp nhau làm kinh tế gia đình… để vươn lên thoát nghèo, có cuộc sống ổn định;

- Đầu tư vốn và trang bị kinh nghiệm, kiến thức cho nông dân nhất là các buổi tập huấn, hội thảo đầu bờ, công tác khuyến nông, khuyến lâm, xây dựng các mô hình thí điểm, để nông dân nắm bắt và nhân rộng những mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao;

- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo nền tảng kinh tế nông thôn phát triển, giải quyết được lao động dư thừa, sử dụng lao động hợp lý, tạo việc làm cho lao động lúc nông nhàn, làm tăng thu nhập mở rộng đầu tư sản xuất, giảm tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn.     

III. Thực trạng hộ nghèo và nhà ở của người nghèo hiện nay

1. Thực trạng hộ nghèo:

Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tại địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực; trong đó, đã chú trọng đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc miền núi, đời sống của nhân dân huyện nhà được nâng lên một bước đáng kể. Cùng với sự đoàn kết nhất trí của nhân dân huyện nhà tạo thành động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, song cũng không tránh khỏi những khó khăn, thách thức đối với các hộ nghèo do trình độ dân trí còn thấp, trình độ sản xuất chưa hòa nhập được khoa học - công nghệ mới.

Thực hiện Chỉ thị số 12/CTUBBT ngày 08/4/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận về việc điều tra, xác định hộ nghèo giai đoạn 2006 - 2010 và tiêu chí xác định hộ nghèo của Chính phủ như sau:

a) Hộ nghèo: được quy định theo hai khu vực nông thôn và thành thị.

- Nông thôn: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 200.000 đồng trở xuống;

- Thành thị: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 260.000 đồng trở xuống.

b) Hộ rất nghèo: được quy định theo hai khu vực nông thôn và thành thị.

- Nông thôn: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 120.000 đồng trở xuống;

- Thành thị: thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 150.000 đồng trở xuống.  

c) Quá trình phân loại hộ nghèo kết hợp điều tra theo thu nhập với bình xét đánh giá về nhu cầu ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh của từng thôn, bản, xã, thị trấn. Với chuẩn mực và cơ sở phân loại này, tính đến đầu năm 2006, số hộ nghèo ở huyện có 3.628 hộ, chiếm tỷ lệ 18,20% so với tổng số hộ toàn huyện, trong đó được phân loại như sau:

* Phân theo khu vực:

- Khu vực thành thị: 543 hộ, chiếm tỷ lệ 14,96% so với tổng số hộ nghèo;

- Khu vực nông thôn: 3.085 hộ, chiếm tỷ lệ 85,04% so với tổng số hộ nghèo.

* Phân theo thu nhập:

- Hộ rất nghèo nông thôn: có thu nhập từ 120.000 đồng/người/tháng trở xuống (2.038 hộ), chiếm tỷ lệ 10,22% tổng số hộ toàn huyện và chiếm tỷ lệ 56,17% so với hộ nghèo;

- Hộ nghèo nông thôn: có thu nhập từ trên 120.000 đồng đến 200.000 đồng/người/tháng (1.047 hộ), chiếm tỷ lệ 5,25% tổng số hộ toàn huyện và chiếm tỷ lệ 28,85% so với số hộ nghèo;

- Hộ rất nghèo thành thị: có thu nhập từ 150.000 đồng/người/tháng trở xuống (293 hộ), chiếm tỷ lệ 1,46% tổng số hộ toàn huyện và chiếm tỷ lệ 8,07% so với hộ nghèo;

- Hộ nghèo thành thị: có thu nhập từ trên 150.000 đồng đến 260.000 đồng/người/tháng (250 hộ), chiếm tỷ lệ 1,25% tổng số hộ toàn huyện và chiếm tỷ lệ 6,89% so với số hộ nghèo.

* Phân theo dân tộc:

- Hộ nghèo thuộc dân tộc Kinh: 2.341 hộ, chiếm tỷ lệ 11,74% so với tổng số hộ chung toàn huyện và chiếm tỷ lệ 64,52% số hộ nghèo;

- Hộ nghèo thuộc dân tộc thiểu số: 1.287 hộ, chiếm tỷ lệ 6,45% so với tổng số hộ chung toàn huyện và chiếm tỷ lệ 35,48% số hộ nghèo.

* Phân theo diện chính sách xã hội:

- Hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công: 121 hộ, chiếm tỷ lệ 0,60% so với tổng số hộ chung toàn huyện và chiếm tỷ lệ 3,33% số hộ nghèo;

- Hộ nghèo thuộc diện chính sách xã hội: 238 hộ, chiếm tỷ lệ 1,19% so với tổng số hộ chung toàn huyện và chiếm tỷ lệ 6,56% số hộ nghèo;

- Hộ nghèo thuộc diện dân thường: 3.269 hộ, chiếm tỷ lệ 16,39% so với tổng số hộ chung toàn huyện và chiếm tỷ lệ 90,11% số hộ nghèo.

 * Số hộ nghèo không có hoặc thiếu đất sản xuất đối với hộ nông nghiệp: 1.420/3.628 hộ đang thiếu đất sản xuất.

2. Nguyên nhân đói nghèo:

Đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính gây ra đói nghèo là do thiếu đất sản xuất, người già cô đơn không nơi nương tựa cần hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước và do nhà ở chưa được ổn định, dẫn đến các hộ nghèo chưa chú tâm vào công việc sản xuất để thoát nghèo; ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác sau đây:

- Điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, hạn hán thường xuyên xảy ra, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển…;

- Nguyên nhân chủ quan: thiếu kiến thức làm ăn, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, sản xuất còn nhỏ lẻ, mang tính quản canh, phong tục lạc hậu, không biết tích lũy trong chi tiêu, thiếu vốn sản xuất, thiếu lao động, đông con, ốm đau, bệnh tật kéo dài...;

- Nguyên nhân cơ chế chính sách: thiếu hoặc đầu tư không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu vực khó khăn; chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn làm ăn, chính sách trong giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, nguồn lực đầu tư còn hạn chế.

* Kết luận: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Thường trực Huyện ủy, HĐND và UBND huyện cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các tổ chức, đoàn thể trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện tốt Chương trình Xóa đói giảm nghèo đã từng bước ổn định đời sống của hộ nghèo, giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội, từng bước đẩy lùi tỷ lệ hộ nghèo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, để đảm bảo hộ nghèo không còn tình trạng tái nghèo xảy ra, cần triển khai đồng bộ chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, vốn sản xuất, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn, hạn chế tình trạng dân di cư tự do. Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở đạt 100% theo kế hoạch đề ra, mức thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng lên, chứng tỏ đời sống của hộ nghèo cải thiện được một bước. Tuy nhiên, mức thu nhập bình quân hiện nay vẫn còn thấp so với bình quân chung của tỉnh.

Từ những nguyên nhân trên, cho thấy chương trình giảm nghèo đang là vấn đề hết sức khó khăn, đòi hỏi cần có sự đầu tư, nghiên cứu, đánh giá một cách cụ thể để định ra những cơ chế, chính sách về công tác giảm nghèo đến năm 2010.



(Theo Tánh Linh)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:



 Lịch vạn sự 
Tháng
Năm 

Danh ngôn:
Làm thầy thuốc lầm thì giết một người.
Làm thầy địa lý lầm thì giết một họ.
Làm thầy chính trị lầm thì giết một nước.
Làm văn hóa lầm thì giết cả một đời.
Vương Dương Minh
 Đăng nhập gởi bài viết 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Kiến thức nhà nông 
 Danh ngôn 
Phụ nữ:

Trong đàn bà, tình bạn gần với tình yêu.
Thomas Moore
 Bài viết nổi bật