phương hướng nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2007
06.03.2007 22:35
ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
***** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----o0o----- |
|
Số: Số: 151/BC-UBND |
BÁO CÁO
Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2007
Phần thứ nhất:TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ-XÃ HỘI NĂM 2006
A. Khái quát tình hình và những chỉ tiêu cơ bản đạt được: I. Khái quát tình hình: Bước
vào năm 2006, bên cạnh việc kế thừa những thành quả đã đạt được của năm
2005, vẫn còn tồn tại những khó khăn như ảnh hưởng dịch cúm gia cầm,
giá vật tư nông nghiệp biến động tăng, tình trạng lấn chiếm đất lâm
nghiệp và dân ngoài tỉnh di cư tự do vào huyện vẫn còn diễn ra phức
tạp... Bên cạnh đó, những tháng đầu năm thời tiết có nhiều biến đổi bất
lợi, làm cho sâu bệnh phát triển mạnh ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản
lượng của các loại cây trồng như lúa, điều,… dịch bệnh lở mồm long móng
xuất hiện ở một số địa phương lân cận đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành
chăn nuôi gia súc trên địa bàn huyện; tình hình dịch cúm gia cầm có
nguy cơ bùng phát cao, dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá trên
cây lúa bùng phát và lây lan trên diện rộng, … ảnh hưởng đến sản xuất
nông nghiệp và khó khăn cho việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển
kinh tế - xã hội đã đề ra; tuy nhiên, với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ
và nhân dân huyện nhà, sự chỉ đạo của tỉnh, Huyện uỷ nên kinh tế-xã hội
của địa phương ổn định và đạt được những kết quả nhất định, thể hiện
trên các lĩnh vực: * Tốc độ tăng trưởng 6,5% (Kế hoạch năm 2006: 13%, thực hiện năm 2005: 13,8%). Trong đó: + Nhóm ngành nông lâm nghiệp: đạt 90,7% so cùng kỳ + Nhóm ngành CN - XD: tăng 16% + Nhóm ngành dịch vụ: tăng 25,8% II. Các chỉ tiêu cơ bản đạt được năm 2006 gồm: - Sản lượng lương thực 100.606 tấn (KH 128.000 tấn) đạt 78,6% - Thu ngân sách 27 tỷ đồng (KH 27 tỷ đồng) - Giảm tỷ lệ sinh 0,1% (KH 0,1%) - Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào lớp 1 100% (KH 100%) - Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo theo chuẩn mới còn 16,88% (KH 15%) - Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 23,08% (KH 22%) - Giao quân đạt: 100% - Xây dựng Thôn văn hoá: 06 thôn (KH 08 thôn) - Xây dựng xã văn hoá: 02 xã (KH 01 xã) - Xã hoàn thành phổ cập THCS đến 2006: 13 xã/14 xã, thị trấn B. Kết quả cụ thể đạt được trong năm 2006: I. Về kinh tế : 1. Nông nghiệp: a.
Trồng trọt : Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là 32.170 ha, đạt
96% so với KH; sản lượng lương thực đạt 100.606 tấn/128.000 tấn, đạt
78,6% KH phấn đấu của huyện và đạt 100% so với chỉ tiêu pháp lệnh của
tỉnh giao. -
Cây lúa: Gieo trồng 21.005 ha/20.344 ha KH, đạt 103,2% tăng 1.300 ha so
với năm 2005; năng suất bình quân đạt 34,5 tạ/ha (giảm7-10 tạ/ha so với
cùng kỳ), sản lượng chỉ có 72.436 tấn/89.000 tấn, đạt 78,6% KH. - Cây bắp: Gieo trồng 4.640 ha/5.400 ha, đạt 70,5% so với kế hoạch, năng suất bình quân đạt 61 tạ/ha, sản lượng đạt 28.170 tấn. -
Cây thực phẩm : Gieo trồng 2.889 ha, đạt 100,7% kế hoạch; đậu các loại
1.723 ha, năng suất bình quân khoảng 7 tạ/ha, sản lượng 1.200 tấn; rau
các loại 1.166 tấn, năng suất 70 tạ/ha, sản lượng 8.160 tấn. -
Cây lấy bột (Cây mỳ) : Gieo trồng của vụ Hè Thu năm 2005 thu hoạch
trong vụ Xuân Hè 2006 với diện tích 2.218 ha, năng suất bình quân đạt
60 tạ/ha, sảng lượng 17.700 tấn, chủ yếu được trồng trên các diện tích
đất lâm nghiệp giao khoán và trồng xen trong diện tích các cây công
nghiệp ngắn ngày chưa kép tán. Diện tích gieo trồng vụ Hè Thu năm 2006
thu hoạch vào vụ Xuân Hè năm 2007 là 2.900ha/2.240 ha 129% kế hoạch,
tăng 430 ha so với cùng kỳ. - Cây đậu phụng: Gieo trồng 570 ha, đạt 114% kế hoạch năm, năng suất bình quân 7,2 tạ/ha, sản lượng 410 tấn. -
Cây bông vải: Gieo trồng 167ha/1.000ha, đạt 16,7% KH, do CTy bông Phan
Thiết đầu tư tại xã Suối Kiết, dự kiến năng suất khoảng 9 tạ/ha, sản
lượng 117 tấn. - Cây công nghiệp dài ngày và cây ăn qủa:
+ Cây điều: Tổng diện tích đầu năm 2006 là 8.077 ha, trong đó trồng mới
60 ha; diện tích cho thu hoạch 7.220 ha, năng suất bình quân đạt 4,5
tạ/ha, giảm 50% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 3.230 tấn (giảm 2.100 tấn
so với cùng kỳ). +
Cây cao su: Tổng diện tích 8.125 ha/7.050 ha theo chỉ tiêu của pháp
lệnh tỉnh đạt 116,5% (trong đó diện tích cao su tiểu điền 1.072 ha),
diện tích trồng mới 1.168 ha, diện tích thu hoạch 2.647 ha; năng suất
bình quân 15,3 tạ/ha, sản lượng khoảng 4.039 tấn. + Cây tiêu: Diện tích 470 ha, năng suất bình quân khoảng 6 tạ/ha, sản lượng 284 tấn. + Cây cà phê : Diện tích 130 ha, năng suất bình quân khoảng 23 tạ/ha, sản lượng khoảng 293 tấn. + Cây ăn qủa: Diện tích 1.277 ha, trong đó có khoảng 760 ha đang trong thời kỳ thu hoạch, chủ yếu là xoài, nhãn, sapôchê … b. Chăn nuôi : * Công tác chăn nuôi, thú y: -
Đàn gia cầm : Tổng đàn gia cầm hiện có khoảng 152.700 con trong đó, đàn
gà 89.800 con, đàn vịt 62.900 con (giảm khoảng 35.600 con so với cuối
năm 2005). Tổ chức tiêm phòng vắc xin với số lượng 50.000 liều cho gia
cầm. -
Đàn gia súc : Tổng đàn gia súc hiện có khoảng 58.907 con trong đó: đàn
bò 6.100 con (tăng khoảng 500 con so với cùng kỳ), đàn trâu 3.510 con
(giảm 80 con so với cùng kỳ), đàn dê 5.989 con (tăng khoảng 165 so với
cùng kỳ), đàn heo 43.607 con. Công tác phòng chống dịch bệnh lở mồm
long móng trên đàn gia súc được chú trọng đúng mức; thường xuyên kiểm
tra việc giết mỗ, tiêu thụ gia súc có bệnh và có nguồn gốc từ các nơi
khác chuyển đến; tổ chức tiêm phòng vắc xin với số lượng 2.460 liều cho
đàn gia súc của bà con đồng bào dân tộc thiểu số. -
Công tác thuỷ sản: Tổng diện tích nuôi thuỷ sản khoảng 120ha tập trung
chủ yếu các xã Nghị Đức, Đức Tân, Bắc Ruộng, TT Lạc Tánh, Gia An và Gia
Huynh; phối hợp với Trung tâm Khuyến ngư tiến hành chọn hộ để thực hiện
03 mô hình nuôi, mở lớp tập huấn về nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt tại
các xã Gia An, Bắc ruộng, Đức Tân với khoảng 125 người tham gia và tiến
hành giao 2 đợt giống cá với số lượng 90.000 con rô phi đơn tính, Điêu
hồng. c. Công tác Khuyến nông : -
Thực hiện và tổng kết mô hình thâm canh 2 lúa 1 bắp tại Bắc Ruộng, Đức
Bình, với tổng doanh thu 1ha/năm đạt trên 45 triệu đồng; chương trình
khuyến nông vụ mùa, mô hình trồng cỏ chăn nuôi 02 ha, năng suất đạt 152
tạ/ha; mô hình cải tạo vườn điều với diện tích 30 ha (Đức Phú 10 ha,
Đức Phú 20 ha), năng suất thu hoạch đạt bình quân 9 tạ/ha (cao hơn năng
suất bình quân của huyện 4,5 tạ/ha); mô hình nhân giống lúa xác nhận
với diện tích 40ha (có 15 ha thuộc chương trình khuyến nông của tỉnh và
nguồn sự nghiệp nông nghiệp 25 ha). -
Công tác chuyển giao kỹ thuật: Tổ chức tập huấn cho nông dân kỹ thuật
trồng và chăm sóc cây cao su tiểu điền 05 lớp/350 người tham gia. Tổ
chức tổng kết chương trình đa dạng hoá nông nghiệp về hợp phần chăn
nuôi, kết quả đã thụ tinh nhân tạo 284 con bò; công tác nạc hoá đàn heo
đã được theo dõi chỉ đạo thực hiện, đến nay có hơn 2.680 lượt thụ tinh
nhân tạo heo bằng đực giống (trong đó có 1.600 lượt bằng giống thuần
chủng). -
Triển khai thực hiện công tác xã hội hóa giống lúa tại địa phương với
kế hoạch vụ mùa là 50 ha, (Nghị Đức 20 ha, Đức Tân 10 ha, Bắc Ruộng 10
ha, Đồng Kho 10 ha); đã tiếp nhận lượng giống nguyên chủng 7.500 kg và
đã gieo sạ xong với diện tích 50 ha (Bắc Ruộng 12 ha, Nghị Đức 20 ha,
Đồng Kho 7 ha, Đức Tân 11 ha). d. Công tác thuỷ lợi: -
Vụ Đông Xuân: Tổng diện tích bơm tưới của các trạm bơm điện trong vụ
Đông Xuân 2005-2006 khoảng 2.230 ha, trong đó trạm bơm Đồng Kho 260 ha,
trạm bơm Huy Khiêm 450 ha, trạm bơm Gia An 220 ha, trạm bơm Bắc Ruộng
700 ha, trạm bơm Lạc Tánh 400 ha, trạm bơm La Ngâu 100 ha và trạm bơm
Đức Bình 100 ha. - Vụ Hè Thu : Bơm tưới khoảng 780 ha cho các xã Đồng Kho, Gia An, Đức Thuận và thị trấn Lạc Tánh. đ. Công tác PCLB&TKCN: Trong
năm trên địa bàn huyện liên tiếp bị ảnh hưởng thiên tai, sạt lở bờ sông
do lũ lớn, lốc xoáy, ngập lụt với diện rộng và ảnh hưởng của cơn bão số
8, số 9; thiệt hại về người làm chết 01 em bé, về hoa màu và tài sản
thiệt hại rất lớn. Ban chỉ huy PCLB&TKCN huyện và xã có mặt kịp
thời sau sự việc xảy ra để trực tiếp chỉ đạo các biện pháp khắc phục và
báo cáo tỉnh để xin tỉnh hỗ trợ; tính đến nay được sự quan tâm của
Trung ương và tỉnh đã hỗ trợ kinh phí và hiện vật cho huyện khắc phục
hậu quả với tổng kinh phí hỗ trợ là 2,4 tỷ đồng, 100 tấn lúa giống, 200
tấn gạo cứu đói và nhiều vật dụng khác. e. Kinh tế trang trại và kinh tế HTX: * Kinh tế trang trại: Theo
kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản năm 2006, hiện
nay trên địa bàn huyện có 390 trang trại với loại hình chủ yếu là trồng
cây công nghiệp và chăn nuôi kết hợp, với diện tích sử dụng là 988 ha,
bình quân 6ha/ trang trại. Trong năm 2006 đã xét cấp thêm được 6 giấy
CN kinh tế trang trại ở xã Nghị Đức, Gia An, nâng số trang trại được
cấp giấy lên 42 trang trại. * Kinh tế tập thể: -
Toàn huyện hiện còn 4 HTX đang hoạt động gồm 2 HTX nông nghiệp (Đức Phú
2, Huy Khiêm 1), 2 HTX phi nông nghiệp (HTX Ô tô vận tải, Tín dụng Nghị
Đức), Hợp tác xã đất Sét Gia An và HTX Nông-Lâm nghiệp Suối Kiết đã
ngừng hoạt động từ đầu năm 2006. 2. Định canh, định cư, dân tộc miền núi: Cùng
với Trung tâm Dịch vụ phát triển miền núi triển khai cho các hộ đăng ký
và cung ứng giống trợ giá trợ cước, với số lượng là 58.992 kg (giống
lúa 47.365 kg, giống Bắp 11.627kg). Hoàn
thành đề án kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện giai đoạn
2006-2010 theo Nghị quyết 39/NQ-TW của Bộ Chính trị; tiếp tục thực hiện
Dự án cấp đất cho đồng bào dân tộc thiểu số thôn 2 xã Gia Huynh; đến
nay đang triển khai thực hiện các chương trình 135, 134, 174… trong kế
hoạch năm 2006 trên địa bàn huyện. Phân
khai chỉ tiêu xây mới nhà ở năm 2006 cho đồng bào DTTS trên địa bàn
huyện là 153 nhà/153 hộ với mức kinh phí là 1.224 triệu đồng cho 08 xã. 3. Quản lý tài nguyên - môi trường: -
Công tác đo đạc: Triển khai đo đạc 1.760 ha/3.000 ha đất nông nghiệp,
đạt 58,6% kế hoạch phấn đấu của huyện; đạt 88% so với chỉ tiêu pháp
lệnh tỉnh giao (1.760 ha/2.000 ha); tập trung ở các xã Nghị Đức, Đức
Tân, Măng Tố, Đồng Kho, Đức Thuận, La Ngâu và Gia An. Đã cấp giấy
CNQSDĐ 2.029,2 ha/ 4.170ha, đạt 48,6% kế hoạch phấn đấu của huyện; đạt
100% so với chỉ tiêu pháp lệnh tỉnh giao (2.029,2 ha/2.030 ha), số giấy
chứng nhận phát hành là 2.686 giấy cho 2.437 lượt hộ gia đình và cá
nhân. Bao gồm: + Đất ở: 22,2 ha/40 ha, đạt 55,5% kế hoạch phấn đấu của huyện; đạt 74% so với chỉ tiêu pháp lệnh tỉnh giao (22,2 ha/30 ha); +
Đất nông nghiệp: 2.008 ha/4.130 ha, đạt 48,5% KH phấn đấu của huyện;
đạt 100,4% so với chỉ tiêu pháp lệnh tỉnh giao (2.008 ha/2.000 ha). -
Giải quyết thủ tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất là 2.051
trường hợp. Trong đó: Tách hợp thửa 305 trường hợp; thực hiện các quyền
chuyển nhượng, cho tặng 696 trường hợp và thế chấp, bảo lãnh, xóa bảo
lãnh 989 trường hợp. Cho phép chuyển mục đích 36 trường hợp. -
Triển khai việc rà soát, điều chỉnh QHSDĐ và lập KHSDĐ kỳ cuối
(2006-2010) của 2 cấp huyện và xã. Hoàn chỉnh phương án quản lý và hoạt
động khai thác đất, cát, sỏi bồi nền huyện Tánh Linh giai đoạn
2006-2010. 4. Lâm nghiệp: -
Thực hiện Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô, xác định khu
vực trọng điểm cháy rừng và bố trí lực lượng PCCC rừng ngay tại chỗ khi
có cháy rừng, cho nên trong năm không xảy ra vụ cháy rừng nào. -
Tổ chức nhiều đợt truy quét, phát hiện và xử lý trên 431 vụ vi phạm lâm
luật, tịch thu 200,56 m3 gỗ các loại, thu phạt và bán lâm sản tịch thu,
xử phạt vi phạm hành chính với số tiền thu nộp vào ngân sách trên 171
triệu đồng. So với năm 2005 giảm 220 vụ (431/651 vụ). -
Tổ chức Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Chỉ thị 12/2003/CT-TTg và
triển khai thực hiện Chỉ thị 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ
tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn
tình trạng chặt phá, đốt rừng và khai thác rừng trái phép; đã xây dựng
và triển khai Kế hoạch số 19/KH-UBND để triển khai Chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ và Kế hoạch của UBND tỉnh. -
Cùng phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh tập trung cho công tác
rà soát quy hoạch 03 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ. 5. Công nghiệp - TTCN - thương mại dịch vụ: Tình
hình sản xuất CN-TTCN trong năm 2006 ước đạt giá trị 129 tỷ đồng (theo
giá cố định năm 1994), đạt 107% kế hoạch năm. Nhìn chung các cơ sở hoạt
động ổn định và phát triển, tính đến nay trên địa bàn huyện có 310 cơ
sở TTCN hoạt động bao gồm 21 ngành nghề với tổng vốn đầu tư trên 13 tỷ
đồng, giải quyết việc làm cho trên 3.340 lao động tại địa phương. -
Ngành sản xuất gạch với 65 cơ sở/244 vỏ lò hiện đang hoạt động, hàng
năm cung cấp cho thị trường khoảng 400 triệu viên gạch; tập trung chủ
yếu ở địa bàn xã Gia An với 61 cơ sở/234 vỏ lò sản xuất khoảng 322
triệu viên gạch, tạo việc làm cho 1.938 lao động. -
Chế biến nhân hạt điều: 02 DNTN chế biến nhân điều đã chế biến được
128,3 tấn/2.000 tấn. Đây là mặt hàng Công nghiệp chiếm tỷ trọng cao
trong tổng sản phẩm công nghiệp trên địa bàn huyện. - Sơ chế mủ cao su: Hiện có 04 cơ sở thu mua sơ chế mủ, với sản lượng sơ chế được khoảng 1.360 tấn mủ. -
Cơ sở sản xuất đũa tre: Hiện có 3 cơ sở sản xuất đũa tre với tổng công
suất 1.143 tấn/năm, giải quyết việc làm cho hơn 100 lao động, đây là
lợi thế của địa phương. 6. Giao thông vận tải: Huy
động sức dân, vốn của tỉnh và vốn CBRIP tu sửa nâng cấp 55,9km đường
giao thông nông thôn kết hợp nội đồng, làm mới 16 cống, sửa chữa 5 cầu,
10 cống giao thông nông thôn, 10 cống giao thông nội đồng với tổng giá
trị đầu tư 10.305 triệu đồng. Hoàn
chỉnh quy hoạch giao thông vận tải trên địa bàn huyện từ nay đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 hiện nay đang trình phê duyệt. Tăng
cường công tác kiểm tra các phương tiện vận tải; đồng thời duy tu sửa
chữa đường sá, cầu cống trên địa bàn huyện đảm bảo giao thông thông
suốt, tăng cường các phương tiện vận tải đảm bảo phục vụ tốt cho việc
đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân. HTX
ô tô vận tải phối hợp với và BQL bến xe có kế hoạch sắp xếp tài chuyến
đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa cho nhân dân;
số lượng vận tải hàng hoá đạt 12.000 tấn/2.400.000tấn/ km và số lượng
vận chuyển hành khách là 212.024 người/34.122.320 người/km. 7. Lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông : Trong
năm 2006 đã phát triển thêm 1.456 thuê bao điện thoại, trong đó : thuê
bao cố định là 1.450/5.925 máy, thuê bao di động trả sau 06/119 máy;
phủ sóng mới 04 trạm Mobiphone (như vậy đến thời điểm hiện nay trên địa
bàn huyện đã phủ 03 mạng di động là : Vinaphone, Mobifone và Viettel);
số thuê bao ADSL phát triển mới trong năm 2006 là 70; đưa vào sử dụng
hệ thống dẫn quang; đầu tư mới 112 km cáp treo (từ 50-200 đôi) và 14,5
km cáp cống (từ 200-600 đôi); đầu tư mới 03 tổng đài tại thôn 2, thôn
3-Gia Huynh, Đức Phú. Hiện nay có 100% xã có điện thoại, báo chí phát
hành trong ngày, toàn huyện có 45 điểm dịch vụ, trong đó 01 bưu cục, 12
điểm văn hóa xã, 20 đại lý đa dịch vụ, 09 đại lý đơn dịch vụ; hiện nay
trên địa bàn huyện có 17 điểm kinh doanh dịch vụ Internet. 8. Xây dựng cơ bản :
Khối lượng đầu tư thực hiện trong năm đạt 135.000 triệu đồng/66.822
triệu đồng đạt 202% KH. Khối lượng thực hiện chủ yếu là thi công các
công trình chuyển tiếp, thanh toán nợ và triển khai xây mới một số công
trình ghi vốn kế hoạch năm 2006; trong đó: nguồn ngân sách huyện và xã
là 16.874 triệu đồng; nguồn ngân sách Trung ương và tỉnh là 52.348
triệu đồng; nguồn đầu tư trong dân là 65.778 triệu đồng. Thực hiện Nghị
quyết HĐND về các công trình trọng điểm: Trạm bơm Lạc Tánh, Trạm bơm La
Ngâu, Trạm bơm Đức Phú, đang tiếp tục triển khai Trạm bơm Tà Pao;
trường tiểu học Huy Khiêm 1 và trường tiểu học Đồng Kho 2 chưa khởi
công được. 9. Khoa học công nghệ : -
Công tác khoa học công nghệ, môi trường được quan tâm thường xuyên; mở
các lớp chuyển giao công nghệ sản xuất cho nông dân như kỹ thuật nuôi
cá rô phi đơn tính, kỹ thuật quản lý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tập
huấn nâng cao nghiệp vụ cho thú y cơ sở, Sản xuất rau an toàn và tưới
phun tiết kiệm; quy trình thâm canh “3 giảm 3 tăng” đối với cây lúa;
thụ tinh nhân tạo giống bò và heo; phối hợp với Trung tâm thông tin và
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tỉnh tổ chức Hội thảo ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp - nông thôn tại huyện. -
Kiểm tra hoạt động của một số cửa hàng kinh doanh xăng dầu và đại lý
phân bón trên địa bàn huyện; kiểm định cân thông dụng tại chợ Lạc Tánh,
Gia An; công bố chất lượng sản phẩm cho 2 cơ sở sản xuất gạch ngói. -
Phát động tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường và hưởng ứng
ngày môi trường thế giới có trên 2.000 người tham gia, kiểm tra an toàn
vệ sinh thực phẩm, vệ sinh giết mổ, phần lớn các hộ sản xuất kinh doanh
đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường; phát hiện một số sai phạm trong
kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, đã chấn chỉnh kịp thời. 10. Tài chính - tiền tệ: a. Lĩnh vực Tài chính: +
Tổng thu ngân sách năm 2006 là 27.000 triệu đồng, đạt 109% chỉ tiêu
pháp lệnh tỉnh giao, đạt 100% chỉ tiêu phấn đấu của tỉnh và huyện giao,
tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu từ Doanh nghiệp Nhà
nước được 300 triệu đạt 60% dự toán tỉnh và huyện giao; thu từ khu vực
kinh tế Doanh nghiệp NQD đạt 11.750 triệu đạt 98% chỉ tiêu pháp lệnh và
đạt 98% chỉ tiêu phấn đấu của huyện; ước thu tiền sử dụng đất 3.200
triệu đạt 320% dự toán tỉnh giao và đạt 100% chỉ tiêu phấn đấu huyện
giao; các khoản phí và lệ phí ước thu khoảng 3.500 triệu đạt 117% chỉ
tiêu huyện và đạt 83% chỉ tiêu phấn đấu của huyện; các khoản thu khác
của ngân sách và thu tại xã được 5.500 triệu đồng đạt 82% dự toán tỉnh
giao và đạt 109% chỉ tiêu huyện giao. + Tổng chi ngân sách trong năm là 67 tỷ triệu đồng đạt 100,3% KH năm, b. Lĩnh vực tín dụng, ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn +
Tổng nguồn vốn huy động 50.000 triệu đồng, so với đầu năm giảm 3.940
triệu đồng, đạt 77%; đã đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về gửi và rút tiền
của khách hàng, bảo đảm an toàn về tài sản và tiền vốn. +
Tổng doanh số cho vay trong năm là 170.000 triệu đồng gồm 8.000 lượt hộ
vay; đưa tổng số dư nợ lên 175.000 triệu đồng của 8.300 lượt hộ vay,
trong đó trung hạn 76.900 triệu đồng, ngắn hạn 85.300 triệu đồng; dài
hạn 12.800 triệu đồng. Cho 8.000 hộ vay (có 5.248 hộ vay qua tổ liên
doanh) chủ yếu là hộ vay cho sản xuất là 162.000 triệu đồng/170.000
triệu đồng, đạt 95,2% trong tổng vốn. Ngân hàng Chính sách - Xã hội Doanh
số cho vay 11.900 triệu đồng, nâng tổng dư nợ đến cuối năm là 33.282
triệu đồng (tăng 5.267 triệu đồng so với thời điểm 31/12/2005); trong
đó dư nợ hộ nghèo 26.452 triệu đồng, dư nợ giải quyết việc làm 3.652
triệu đồng, học sinh sinh viên 80 triệu đồng, xuất khẩu lao động 300
triệu đồng, nước sạch vệ sinh môi trường 2.800 triệu đồng. Cho vay chăn
nuôi bò theo Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy và NQ 11 của Huyện ủy với số vốn
là 605 triệu đồng/78 hộ/139 con, đưa tổng dư nợ lên 1.500 triệu
đồng/196 hộ/318 con. Kho
bạc: Trong năm đã thực hiện chủ trương phát hành trái phiếu kho bạc nhà
nước được 200 triệu đồng, đạt 25% KH; thực hiện việc thu chi tiền mặt
đảm bảo an toàn đúng quy định, kiển soát thanh toán vốn đầu tư XDCB
đúng quy trình. II. Văn hoá - xã hội: 1. Giáo dục: -
Kết quả xét tốt nghiệp năm học 2005-2006 về THCS: Toàn huyện có 2.121
học sinh đăng ký xét tốt nghiệp THCS; kết quả có 2.040 học sinh đỗ tốt
nghiệp, chiếm 96,18%; trong đó: giỏi 7,73%, khá 29,61%, trung bình
58,84%; Kết quả xét tốt nghiệp bổ túc THCS: Có 42 học sinh đăng ký xét
tốt nghiệp bổ túc THCS; kết quả đỗ tốt nghiệp 100%; trong đó: khá
45,24%, trung bình 54,76%; Kết quả thi đỗ PTTH năm học 2005-2006 của
trường PTTH Tánh Linh đạt 86,2% (kể cả 86 thí sinh tự do); trường PTTH
Nguyễn Văn Trỗi đạt 86,5%. -
Năm học 2006-2007 toàn huyện có 64 trường học, trong đó Mẫu giáo: 16
trường, Tiểu học 29 trường; Trung học cơ sở 17 trường, Trung học phổ
thông 02 trường; số học sinh trên toàn huyện có 28.847 học sinh/973
lớp, trong đó Nhà trẻ 177 cháu/13 nhóm tuổi, Mẫu giáo 3.488 cháu/130
lớp, Tiểu học 11.275 học sinh/465 lớp; Trung học cơ sở 10.554 học
sinh/292 lớp, Trung học phổ thông 3.353/77lớp; so với năm học trước số
cháu nhà trẻ tăng 46 cháu; học sinh mẫu giáo giảm 117 em, học sinh tiểu
học giảm 734 em, học sinh Trung học cơ sở tăng 28 em, Trung học phổ
thông 395 em.
- Theo số liệu thống kê trên toàn huyện hiện nay có 465 học sinh bỏ học
chiếm 1,61%; trong đó: bậc Tiểu học có 18 học sinh chiếm 0,15%, (số học
sinh là người dân tộc thiểu số có 17/18 học sinh); bậc Trung học cơ sở
số học sinh bỏ học 432 em chiếm 4,0% (số học sinh là người dân tộc
thiểu số có 99/432 học sinh chiếm tỷ lệ 22,9 %); Trung học phổ thông 15
em chiếm tỷ lệ 0,44%. -
Công tác phổ cập giáo dục THCS trong năm 2006 đã tổ chức mở 05 lớp với
121 học sinh ở 02 xã Đức Bình và thị trấn Lạc Tánh; tính đến nay toàn
huyện có 13/14 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS; hiện nay có 8/14 xã,
thị trấn đạt chuẩn PCGDTH đúng độ tuổi; huyện tiếp tục giữ chuẩn quốc
gia về PCGDTH-XMC. Tỷ lệ người biết chử trong độ tuổi là 98,2%, tăng
hơn năm trước 0,38%. -
Công tác khuyến học đã có nhiều cố gắng trong hoạt động, đến nay đã có
5.758 hội viên, có 69/75 thôn bản có tổ chức Hội khuyến học, với 209
Hội cơ sở và chi hội; đã huy động được quỹ và chi cấp cho các em học
sinh nghèo hiếu học với số qũy gần 300 triệu đồng, trong năm đã hỗ trợ
713 suất học bổng 2. Y tế : Trong
năm 2006 đã tổ chức khám, chữa bệnh cho 171.279 lượt người, đạt 109,8%
tăng 8,6% so với năm trước; trong đó Trung tâm Y tế huyện 41.015 lượt
người, tuyến xã 111.348 lượt người, phòng khám đa khoa khu vực Bắc Sông
18.916 lượt người; tổng số bệnh nhân nội trú là 7.036 người; số bệnh
nhân điều trị ngoại trú 74.800 người; tổng số bệnh nhân thuyên chuyển
là 341; số bệnh nhân tử vong tại Bệnh viện là 15 ca giảm 12% so với năm
trước. Số trẽ em suy dinh dưỡng giảm còn 23,08%, so với chỉ tiêu KH là
22% (năm 2005 là 25,89%); tỷ lệ giảm sinh đạt được 0,1% Thực
hiện Chương trình mục tiêu y tế Quốc gia: Tiêm chủng mở rộng, phòng
chống sốt rét, phòng chống lao, phong, suy dinh dưỡng, sốt xuất huyết,
HIV/AIDS… đều được quan tâm tập trung triển khai và đã đạt được kết quả
tốt. Công tác củng cố và kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở: Các Trạm y tế
đều có nữ hộ sinh, các thôn bản đều cò nhân viên y tế, 05/14 xã đều có
Bác sĩ về công tác, 05 xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế, hiện đang
kiểm tra 2 Trạm để trình công nhận. 3. Văn hóa Thông tin - Thể thao: -
Tập trung tuyên truyền phục vụ các ngày lễ lớn trong năm; tham gia Hội
thi, Hội diễn và các chương trình văn nghệ thể thao do tỉnh, huyện tổ
chức và đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ; tổ chức kiểm tra
dịch vụ văn hoá, phát hiện kịp thời những sai phạm và nhắc nhỡ các dịch
vụ thực hiện đúng theo quy định. -
Số buổi chiếu phim phục vụ miền núi: 182 buổi/4.102.800 lượt người, số
buổi chiếu phim phục vụ thiếu nhi: 43 buổi/22.300 lượt người; ngoài ra
còn kết hợp tuyên truyền phim tài liệu, phát loa phóng thanh trước và
sau buổi chiếu 86 giờ. -
Thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã
triển khai xây dựng 06 thôn đăng ký xây dựng Thôn văn hoá, nâng số thôn
trên địa bàn huyện lên 58/74 thôn; xây dựng 02 xã đạt danh hiệu xã văn
hoá, 19.361hộ/20.404 hộ đăng ký xây dựng gia đình văn hoá đạt 94,8 % và
96/134 đơn vị đăng ký cơ quan có nếp sống văn minh. -
Đài Truyền thanh - Truyền hình tiếp phát được 19.440 giờ trong đó tiếp
phát chương trình Đài tiếng nói Việt Nam, chương trình Đài Bình Thuận,
xây dựng 94 chương trình phát thanh phục vụ các ngày lễ, tết; ngoài ra
còn tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng;
đặc biệt chú trọng tuyên truyền các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà
nước; công tác an toàn giao thông, an ninh, trật tự xã hội. 4. Các hoạt động xã hội khác: -
Công tác chính sách xã hội: tổ chức thăm và tặng quà cho các đối tượng
chính sách, người có công nhân ngày lễ, tết và ngày thương binh liệt sĩ
27/7; hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà tình nghĩa cho 27 đối tượng; việc
giải quyết nhà ở, xóa nhà tạm bợ, nhà dột nát cho các hộ gia đình
nghèo, khó khăn và chính sách trong năm 2006 được 153 hộ; giải quyết
tốt và kịp thời hồ sơ cho các đối tượng hưởng chính sách của Nhà nước;
đề nghị Ban thi đua khen thưởng tỉnh Bình thuận giải quyết tặng huân,
huy chương kháng chiến cho các đối tượng tham gia hoạt động kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ. -
Công tác giảm nghèo: Tổng số hộ nghèo trên toàn toàn huyện hiện có
3.366 hộ/13.829 khẩu, chiếm 16,88% (cuối năm 2005 là 3.628 hộ đạt
18,2%KH); số hộ nghèo giảm trong năm 2006 là 262 hộ (kế hoạch năm 2006
giảm 550 hộ). Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số hiện có 1.219/5.624
hộ, chiếm 21,67%. -
Công tác xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm: trong năm 2006 đã
giải quyết việc làm cho 2.055/2.000 lao động, đạt 100,4% kế hoạch; tổ
chức “Ngày hội việc làm cho thanh niên” tính đến nay đã giải quyết cho
15 lao động đi làm việc tại Malaysia và giải quyết cho 120 đối tượng
vay vốn theo quỹ hỗ trợ việc làm. -
Công tác dạy nghề: hiện nay đã dạy nghề cho 996/870 học viên, đạt 111%
kế hoạch; trong đó: lao động nông thôn tổ chức 15 lớp dạy nghề cho
521/450 học viên đạt 116% kế hoạch, nghề khác 420 học viên (số lao động
là người dân tộc thiểu số tham gia học các lớp với 150 học viên đạt
15,06 %); dạy nghề ngắn hạn khác 445/420 học viên, đạt 106% kế hoạch. 5. Công tác cải cách thủ tục hành chính: Công
tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa” của huyện và các
xã, thị trấn được triển khai thực hiện tốt theo quy định, đối với Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện hoạt động bình thường, nhận và
trả kết quả đúng thời gian; đã có 14/14 xã, thị trấn thực hiện cơ chế
“Một cửa”. Qua kiểm tra tình hình thực hiện cơ chế “Một cửa” tại các xã
thị trấn, nhìn chung việc thực hiện giải quyết hồ sơ, thủ tục hành
chính theo cơ chế “Một cửa” ở một số xã đã hoàn thành tốt trong việc
hướng dẫn và giải quyết tạo được sự đồng tình ủng hộ của tổ chức, nhân
dân như: Đức Phú, Nghị Đức, Gia An và thị trấn Lạc Tánh. III. Quốc phòng - an ninh : 1. Công tác quân sự địa phương : Cấp
ủy và chính quyền địa phương đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo về công tác
quân sự - quốc phòng; hoàn thành tốt công tác giao quân năm 2006 (02
đợt), phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tốt các đợt truy quét
tội phạm, chống phá rừng, chống cháy rừng, phòng chống lụt bão. Về
xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đã tiến hành đăng ký, quản lý công
dân trong độ tuổi để xây dựng lực lượng Dân quân đạt theo yêu cầu, đến
nay duy trì đạt 1,8% do dân số sắp xếp; ổn định biên chế lực lượng dự
bị động viên của huyện bảo đảm cho công tác huấn luyện và giao nguồn
cho các đơn vị; đăng ký số thanh niên tuổi 17 để chuẩn bị cho công tác
tuyển quân trong năm 2007. Tổ chức diễn tập 3 xã Đức Tân, Đồng Kho, Bắc Ruộng và tổ chức luyện tập CH-CQ đạt khá. 2. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội : -
Người nước ngoài, Việt Kiều về địa phương giảm so với năm 2005 (07/44
người nước ngoài, 40/65 Việt kiều) trong đó người nước ngoài đến địa
phương để thăm và làm việc tại tổ chức VN PLus (NGO) - hoạt động tuyên
truyền, tài trợ cho quỹ “Vì trẻ em nghèo” và các hoạt động tài trợ
khác, các hoạt động còn lại chủ yếu là hỗ trợ, cho vay vốn; Việt kiều
chủ yếu về thăm quê hương, thăm thân. Qua công tác nắm tình hình và
quản lý của cấp chính quyền tốt, không có gì nổi lên. -
Tình hình an ninh nông thôn, vùng dân tộc: Nổi lên là tình hình khiếu
nại, kiện thưa của một nhóm người thường xuyên đi lại, gặp nhau, làm
đơn gởi các nơi để khiếu kiện xung quanh tố cáo vi phạm về quyền con
người, về đất đai, xin được cấp đất sản xuất; tố cáo chính quyền vi
phạm, gây nên tình hình phức tạp. -
Về phạm pháp hình sự: Xảy ra 64 vụ, so với năm 2005 là giảm (64/74 vụ);
trọng án xảy ra 03 vụ, so cùng kỳ năm 2005 là giảm (03/04 vụ); thường
án xảy ra 61 vụ, so với năm 2005 là giảm (61/70 vụ). Cụ thể: 02 vụ cướp
tài sản, 01 vụ “cướp giật tài sản”, 01 vụ “Giết người”, 32 vụ “Trộm cắp
tài sản” (trong đó có 13 vụ trộm cắp xe môtô), 15 vụ “cố ý gây thương
tích”, 01 “đánh bạc”, 01 vụ “huỷ hoại tài sản”, 01 vụ đặt vật cản trên
đường sắt, 06 vụ “huỷ hoại và cố ý làm hư hỏng tài sản”, 01 vụ “bắt
người trái pháp luật”, 01 vụ “chiếm đoạt tài sản”, 01 vụ “lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản”, 01 vụ “chống người thi hành công vụ”. Nhìn
chung phạm pháp hình sự có xảy ra nhưng đã được kiềm chế và giảm so với
năm 2005, tập trung đấu tranh làm rõ 58/64 vụ; tình hình tội phạm ma
tuý, loại tội phạm có tổ chức hoạt động lưu động không xảy ra; tệ nạn
xã hội có giảm (xảy ra 02/03 vụ so với năm 2005). Tuy nhiên, tình hình
tội phạm nổi lên đáng quan là cướp tài sản (02 vụ), chống đối người thi
hành công vụ, bắt giữ người thi hành nhiệm vụ; huỷ hoại tài sản của
công dân. Nổi lên là tình hình trộm cắp tài sản (32 vụ), cố ý gây
thương tích (15 vụ) xảy ra phức tạp, có vụ mang tính chất xã hội đen.
Gây thiệt hại làm bị thương 12 người (giảm 12/17 người), 01 căn nhà bị
hư hỏng, 02 sợi dây chuyền vàng, 02 con trâu, 01 máy nổ, 13 xe môtô
(giảm 13/14 xe), 06 cái chòi, 170 m dây điện thắp sáng, 04 CPU, 1 đầu
máy may, 48 sấp vải, 1 ĐTDĐ, 11 cây mai vàng, 6.634 cây cao su (mới
trồng), tiền mặt 69 triệu đồng và thiệt hại một số tài sản khác khoảng
20 triệu đồng. -
Về phạm pháp kinh tế: Xảy ra 03 vụ (02 vụ khai thác lâm sản trái phép,
01 vụ trốn lậu thuế). Ngoài ra, Công an huyện phát hiện bắt giữ 04 xe
ôtô, 01 môtô (kéo móc), vận chuyển lâm sản trái phép và thu giữ
13,296m3 gổ các loại, 15 ster củi. -
Về tai nạn giao thông: Xảy ra 10 vụ; làm chết 11 người; so với năm 2005
là giảm (10/13 vụ, 11/13 người chết, 02/03 người bị thương). Đã xử lý:
02 vụ xử lý hành chính, 08 điều tra. Nhìn chung tình hình TNGT giảm
trên cả 3 mặt so với năm 2005. 3. Công tác thanh tra- Tư pháp: -
Tổ chức thanh tra 04 đơn vị: Lâm trường Tánh Linh, Lâm trường Sông
Dinh, Hạt Kiểm lâm, Khu Bảo tồn TN-Núi Ông về việc chấp hành pháp luật.
Qua Thanh tra nhận thấy các đơn vị đều chấp hành tốt các quy định pháp
luật. Đang tiến hành thanh tra trên lĩnh vực xây dựng cơ bản đối với
các công trình trụ sở làm việc. Duy trì công tác trực tiếp dân vào các ngày 01 và 15 hàng tháng; đã tiếp nhận rất nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. -
Ngành tư pháp tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đã
triển khai ở 14 xã, thị trấn; tổ chức cấp phát 60 cuốn đề cương tuyên
truyền Nghị định 38/2005/NĐ-CP và 3.000 tờ bướm về một số biện pháp bảo
đảm trật tự công cộng để Công an huyện và Công an địa phương tổ chức
tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân; hướng dẫn các xã, thị trấn thực
hiện việc chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử
dụng đất. Phối hợp với các ngành chức năng tổ chức Hội nghị triển khai
Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí,
Luật khiếu nại, tố cáo (sửa đổi) cho lãnh đạo các cơ quan chuyên môn
của huyện. B. ĐÁNH GIÁ CHUNG: Nhìn
chung trong năm tuy có diễn biến khó khăn ảnh hưởng đến điều hành
chung, nhưng với sự cố gắng của các ngành, các cấp đã nổ lực trong chỉ
đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ đề ra. Về sản xuất nông nghiệp
nhờ phát huy tốt hiệu quả từ các công trình thủy lợi nên diện tích gieo
trồng vụ Đông Xuân vẫn đạt cao, tăng trên 1.000 ha so với cùng kỳ; cây
công nghiệp dài ngày và cây ăn quả diện tích vẫn giữ mức ổn định, nếu
không ảnh hưởng thiên tai thì sản lượng lương thực đạt theo chỉ tiêu đề
ra. Đàn gia súc, gia cầm tuy dịch bệnh xảy ra nhiều ở các nơi, nhưng
vẫn ngăn chặn được; lĩnh vực lâm nghiệp đã hạn chế được tình hình phá
rừng khai thác vận chuyển lâm sản trái phép; công tác cấp giấy chứng
nhận được quan tâm giải quyết với kết quả đạt khá so với kế hoạch của
tỉnh. Kết quả thu ngân sách đã có nhiều cố gắng; các trường học đã đồng
loạt khai giảng theo đúng thời gian, cơ sở trường lớp đảm bảo không có
tình trạng học ca 3; công tác khám chữa bệnh có nhiều tiến bộ; quan tâm
thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người có công và chính sách xã
hội; tình hình an ninh chính trị tiếp tục giữ vững. Đạt
được kết quả trên trong năm 2006 các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội
cũng đã luôn quan tâm chỉ đạo vận động ngành giới mình trên cơ sở những
nhiệm vụ trong năm cần bám và có sự phối hợp với chính quyền và các cơ
quan chức năng triển khai thực hiện các phong trào như Phụ nữ giúp nhau
làm kinh tế gia đình, xoá đói giảm nghèo, phong trào nông dân sản xuất
giỏi, thanh niên lập nghiệp… đạt khá tốt. Nhiều điển hình vươn lên
thoát nghèo và khá tạo cho xã hội ngày tốt hơn. Việc liên kết với Ngân
hàng NN huyện và Ngân hàng chính sách của 4 tổ chức: Hội LHPN, Nông
dân, Đoàn Thanh niên, Cựu Chiến binh; với số vốn vay trên 84 tỷ đồng
cho gần 11.000 lượt hộ vay, trên 650 tổ. Đây cũng là năm thứ sáu thực
hiện chương trình này và đã mang lại kết quả khá tốt, góp phần trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những mặt tồn tại hạn
chế đó là: do ảnh hưởng lũ lụt và dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn
lá cho nên năng suất các loại cây trồng giảm, sản lượng đạt thấp hơn so
với năm 2005 trên 19.000 tấn; thiệt hại ước tính trên 39 tỷ đồng; đây
là thiệt hại hết sức lớn đối với bà con nông dân của huyện. Công tác
Tài nguyên môi trường tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình tham mưu
thực hiện, nhưng kết quả cấp giấy chứng nhận QSDĐ so với chỉ tiêu phấn
đấu của huyện còn đạt thấp; thực hiện cải cách thủ tục hành chính chưa
đổi mới, còn nhiều phiền hà; kiểm tra xử lý các vi phạm về sử dụng đất
đai chưa được quan tâm đúng mức; giải quyết thủ tục có liên quan đến
thực hiện các quyền của người sử dụng đất từng lúc từng nơi vẫn còn
chậm chưa đáp ứng yêu cầu của người dân; quá trình tiếp nhận và xử lý,
cơ quan chức năng chưa có sự vận dụng linh hoạt và phối hợp để giải
quyết. Tình hình lấn chiếm đất đai đã và đang xảy ra hết sức phức tạp
nhưng quá trình giải quyết, xử lý chưa đạt theo yêu cầu, tình hình trên
đã gây cản trở không nhỏ đến quá trình bố trí đất đai theo quy hoạch và
chỉ đạo điều hành của chính quyền địa phương. Mặc dù UBND huyện đã
thành lập rất nhiều đoàn và trực tiếp chỉ đạo cho các ngành chức năng
và các địa phương tập trung mọi nguồn lực và dành khá nhiều thời gian
đầu tư giải quyết nhưng kết quả đem lại còn rất hạn chế, chưa đáp ứng
với yêu cầu đặt ra; tiến độ giải quyết đất SX cho đồng bào dân tộc
thiểu số còn quá chậm. Công tác kiểm tra về tài nguyên khoáng sản,
thanh tra môi trường chưa thường xuyên và đi vào nề nếp; tình trạng
khai thác đất bồi nền vẫn còn diễn ra tuỳ tiện, tình trạng ô nhiễm môi
trường vẫn còn xảy ra khá phổ biến nhưng chưa có biện pháp xử lý nghiêm
theo quy định của pháp luật. Việc khai thác vận chuyển lâm sản bằng
đường sông, chuyển gỗ theo đường bộ vẫn còn diễn ra nhưng chưa được
phát hiện và xử lý nghiêm; giá trị khối lượng thực hiện trong công tác
XDCB so với vốn thanh toán còn hạn chế. Các công trình trọng điểm trong
năm 2006 vẫn chưa hoàn thành bàn giao công trình, công trình mới triển
khai ở các xã, thị trấn còn chậm, lúng túng trong việc lập kế hoạch,
triển khai xây dựng từ các nguồn vốn hỗ trợ và nguồn cân đối ngân sách;
công tác thu ngân sách một số chỉ tiêu vẫn chưa đạt, chưa tập trung thu
các khoản nợ đọng; Tình trạng học sinh bỏ học ở các cấp học vẫn còn
nhưng chưa có kế hoạch giải quyết; chất lượng giáo dục đang là mối quan
tâm cần phải điều chỉnh chất lượng đánh giá cuối năm học, lớp cuối cấp
THCS mặc dù đều đạt tốt về hạnh kiểm, đạo đức nhưng chất lượng kiểm tra
các môn tự nhiên và ngoại ngữ đầu năm ở đầu cấp PTTH đạt thấp; chậm
triển khai việc tách Trung tâm y tế huyện theo mô hình mới; số Bác sỹ
được bố trí về các cơ sở Y tế vẫn còn thiếu; hoạt động văn hóa chưa
quản lý tốt đối với các dịch vụ Games, chưa chú ý đến các phong trào
văn hóa, công tác xây dựng gia đình văn hóa còn tiềm ẩn nhiều khó khăn,
có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa phát huy được hiệu quả hoạt
động Nhà văn hóa gắn với trụ sở thôn; tình hình thực hiện các chính
sách, giải quyết việc làm và cứu trợ hộ gia đình bị thiên tai còn chậm
trể chưa có kế hoạch chỉ đạo kịp thời; kế hoạch xây dựng Quỹ vì người
nghèo đạt thấp so với kế hoạch; công tác cải cách hành chính theo cơ
chế “Một cửa” ở một số xã, thị trấn giải quyết còn chậm nhất là ở lĩnh
vực đất đai, hồ sơ giải quyết không đúng hẹn, để xảy ra sai sót, không
theo đúng quy trình còn gây khó dễ cho nhân dân; Tình hình khiếu nại,
tố cáo của công dân diễn biến phức tạp, chủ yếu trên lĩnh vực đất đai;
tình hình thanh thiếu niên phạm tội đánh nhau (kiểu băng nhóm xảy ra),
tình hình trộm cắp nổi lên đáng quan tâm xảy ra còn nhiều gây lo lắng
trong nhân dân. Tệ nạn xã hội còn xảy ra (cờ bạc). Tai nạn giao thông
giảm trên tất cả các mặt; phong trào quần chúng bảo vệ ANTQ tuy được
duy trì nhưng có lúc, có nơi còn hạn chế, còn hình thức nên sự phòng
ngừa, đấu tranh tội phạm ở cơ sở còn hạn chế. Công tác phối kết hợp
giữa các ngành chức năng còn nhiều bất cập, công tác tham mưu giải
quyết tình hình xảy ra chưa sâu, chỉ đạo giải quyết chưa dứt điểm; các
vụ án xảy ra nhưng kết quả phá án còn rất hạn chế. Năng
lực tham mưu và điều hành của một số ngành và địa phương vẫn còn yếu;
việc tham mưu, tổ chức thực hiện, xử lý tình hu
(Theo Tánh Linh) |