Về việc phê duyệt Quy hoạch các điểm kinh doanh dịch vụ Karaoke ......
30.01.2007 23:46
ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
----------------
Số :12/QĐ -UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------------
Lạc Tánh, ngày
05 tháng 01 năm 2007 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Quy hoạch các điểm kinh doanh dịch vụ Karaoke
trên địa bàn huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010.
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ngày 26 tháng 11 năm
2003;
Căn cứ Nghị định 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ về việc ban hành
quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng;
Căn cứ Thông tư 54/2006/TT-BVHTT ngày 24/5/2006 của Bộ Văn hoá Thông tin về
hướng dẫn quản lý quy hoạch nhà hàng Karaoke, vũ trường;
Xét đề nghị của Trưởng phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao huyện,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch các điểm kinh doanh dịch vụ Karaoke
trên địa bàn huyện Tánh Linh giai đoạn 2006 - 2010 (kèm theo Quyết định này).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng HĐND&UBND huyện, Trưởng phòng Văn hóa
Thông tin - Thể thao, Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch, Trưởng Công an huyện,
Thủ trưởng các cơ quan liên quan và Chủ tịch UBND các xã, thị trấn căn cứ Quyết
định thi hành./.
|
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Phạm Ngọc
Chính |
QUY HOẠCH
Các điểm kinh doanh dịch vụ Karaoke
trên địa bàn huyện Tánh Linh, giai đoạn 2006 - 2010
(Kèm theo Quyết định số: 12 /QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2007
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện).
-----------------------------
Căn cứ tình hình thực tế và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
về nhu cầu sinh hoạt và hưởng thụ văn hoá nghệ thuật của cán bộ và nhân dân
trong huyện từ nay đến năm 2010, UBND huyện Tánh Linh xây dựng Quy hoạch các
điểm kinh doanh dịch vụ Karaokê trên địa bàn huyện, giai đoạn 2006 - 2010 cụ thể
như sau:
I. Tình hình hoạt động dịch vụ Karaoke trong thời gian qua:
1. Đặc điểm tình hình:
Tánh linh là huyện miền núi, cách trung tâm Tỉnh 100 km nằm về phía
Tây Nam, Tổng diện tích tự nhiên 117.400 ha; cơ cấu gồm có 01 thị trấn và 13 xã,
trong đó: có 06 xã vùng cao, còn lại là xã miền núi; dân số có trên 100 ngàn
người với 13 thành phần dân tộc; ngoài dân tộc Kinh chiếm số lượng lớn, còn lại
có trên 10% là dân tộc ít người như: Raglai, K’ho, Chăm, Tày, Nùng, Hoa… sống
rãi rác ở 10 xã, thị trấn trên địa bàn huyện; gần 90% dân số sống bằng nghề nông
nghiệp.
Là huyện miền núi, giao thông còn khó khăn, địa bàn có nhiều thành
phần dân cư, tình hình kinh tế xã hội chưa thật sự phát triển. Song trong những
năm gần đây cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, Tánh Linh cũng đã và
đang có những chuyển biến về kinh tế xã hội; đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân từng bước được cải thiện, ngày càng nâng cao, phong trào văn hoá văn
nghệ phát triển rộng rãi.
2. Kết quả xây dựng và phát triển các hoạt động văn hoá, kinh doanh
dịch vụ văn hoá:
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và kết luận Hội nghị
Trung ương 10 (khoá IX), Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành các chương trình hành
động cụ thể chỉ đạo các địa phương; từ đó, Huyện ủy và UBND huyện đã chỉ đạo các
cơ quan, ban ngành, các xã, thị trấn trên địa bàn huyện triển khai thực hiện và
đã đem lại nhiều kết quả, làm chuyển biến rõ nét bộ mặt nông thôn miền núi trong
đó có lĩnh vực văn hoá.
Từ năm 2000 trở về đây, nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động sự nghiệp
văn hoá được quan tâm hơn; việc đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá ở huyện,
xã, thị trấn có những chuyển biến tích cực. Nhiều mô hình hoạt động văn hoá do
nhân dân chủ động khởi xướng theo phương châm xã hội hoá như: các tụ điểm hát
với nhau, các dịch vụ bán và cho thuê băng đĩa, quảng cáo, kinh doanh sách văn
hoá phẩm… đã đem lại hiệu quả khá tốt.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện thời gian
qua, đời sống của nhân dân trong huyện đã có bước tiến bộ rõ rệt, nhu cầu hưởng
thụ, thưởng thức văn hoá, nghệ thuật của cán bộ và nhân dân địa phương không
ngừng được nâng lên; đòi hỏi cơ quan chức năng phải kịp thời đáp ứng; trong đó
có nhu cầu hoạt động của Karaoke…
Thực hiện luật doanh nghiệp hiện nay trên địa bàn huyện chỉ còn loại
hình hoạt động dịch vụ Karaoke và bán, cho thuê băng đĩa phim phải đăng ký ngành
nghề; việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ văn hoá theo cơ chế “một cửa” đã tạo
những điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong huyện có nhu cầu kinh
doanh hoạt động karaoke; toàn huyện hiện nay có 10 Cơ sở kinh doanh dịch vụ
karaoke, trong đó:
- Lạc Tánh : 03 cơ sở (mỗi cơ sở 02 phòng)
- Đức Bình : 01 cơ sở (số lượng 02 phòng)
- Đức Thuận : 01 cơ sở (số lượng 01 phòng)
- Bắc Ruộng : 02 cơ sở (mỗi cơ sở 02 phòng)
- Gia Huynh : 01 cơ sở (số lượng 01 phòng)
- Gia An : 02 cơ sở (mỗi cơ sở 02 phòng)
3. Kết quả công tác quản lý, kiểm tra:
Công tác quản lý, kiểm tra hoạt động văn hoá, kinh doanh dịch vụ văn
hoá trên địa bàn được UBND huyện quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời; đã ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định trên lĩnh vực văn hoá thông tin;
chỉ đạo tăng cường kiểm tra, quản lý các hoạt động dịch vụ văn hoá trên địa bàn
huyện.
Đội kiểm tra liên ngành 814 huyện được củng cố và đặc biệt trong năm
2006 đã thành lập đội 814 xã, thị trấn và đi vào hoạt động có nề nếp. Các đội
kiểm tra thường xuyên duy trì hoạt động, kiểm tra kiểm soát có trọng tâm, trọng
điểm; hạn chế cơ bản những hiện tượng tiêu cực, biến tướng, trá hình của các
dịch vụ.
4. Nhận xét chung:
Qua kiểm tra thực tế cho thấy hoạt động karaoke ở Tánh Linh chỉ đáp
ứng phần nào nhu cầu sinh hoạt hưởng thụ văn hoá nghệ thuật của một bộ phận nhân
dân. Số lượng cơ sở karaoke được cấp phép hoạt động không đáng kể, nhiều xã hiện
nay không có dịch vụ karaoke, chủ yếu tập trung ở thị trấn và xã đông dân cư;
tính chất phức tạp, tiêu cực ở các dịch vụ này không nổi cộm; các cơ quan chức
năng đã tổ chức kiểm tra, khi phát hiện có dấu hiệu kịp thời xử lý ngăn chặn.
Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra liên ngành Đội 814 chỉ tập trung duy trì
ở cấp huyện; cấp xã, thị trấn hoạt động kiểm tra còn rời rạc, không tập trung.
Do hoạt động này chủ yếu dưới hình thức kiêm nhiệm, liên quan nhiều ngành nên
việc duy trì công tác kiểm tra hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá có lúc chưa
duy trì một cách thường xuyên liên tục. Hiện nay sau khi thực hiện Chỉ thị
17/2005/CT-TTg ngày 25/5/2005 thì nhiều điểm Karaoke mang tính chất “gia đình” ở
các nhà trọ, nhà hàng phát sinh nên cũng cần có sự quản lý, tránh các hình thức
biến tướng, trá hình.
II. Định hướng quy hoạch phát triển trong thời gian tới:
Nghị định 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ về việc ban hành
Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng đã nêu: “Các
hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng phải xây dựng nền văn
hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; giáo dục nếp sống lành mạnh và phong cách
ứng xử có văn hoá cho mọi người; kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái nghĩa
tình, thuần phong mỹ tục; nâng cao hiểu biết và trình độ thẩm mỹ, làm phong phú
đời sống tinh thần của nhân dân; ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ những sản phẩm
văn hoá có nội dung độc hại; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất
nước”.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo trên, việc Quy hoạch phát triển hoạt động
văn hoá, dịch vụ văn hoá, nhất là hoạt động của các cơ sở Karaoke trên địa bàn
huyện trong thời gian tới cần tuân thủ theo định hướng cơ bản sau:
1. Định hướng chung:
- Quy hoạch các điểm hoạt động dịch vụ không tách rời quy hoạch chung
của từng địa bàn cơ sở để bảo đảm có sự phát triển hài hoà trên các lĩnh vực;
quy hoạch các điểm hoạt động dịch vụ nhằm mục đích tiếp tục thực hiện có hiệu
quả Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) theo tinh thần kết luận Hội nghị Trung
ương 10 (khoá IX) và chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá của Chính phủ.
- Việc quy hoạch các điểm hoạt động dịch vụ văn hoá phải được tiến
hành từ cơ sở xã, thị trấn; phù hợp với đặc điểm tình hình và nhu cầu phát triển
chung của từng địa phương; bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu tổ chức, sáng tạo và
hưởng thụ văn hoá nghệ thuật của nhân dân ở cơ sở theo sự quản lý Nhà nước, phát
triển một cách lành mạnh và đúng hướng.
- Duy trì hoạt động các cơ sở karaoke hiện có, đi đôi với việc tăng
cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động dịch vụ văn hoá trên
địa bàn huyện. Chỉ lưu ý phát triển một cách hợp lý các hoạt động này ở những
xã, thị trấn, những vùng đông dân cư còn hạn chế về sinh hoạt văn hoá và chưa có
cơ sở karaoke.
- Các cơ sở hoạt động karaoke đã được cấp giấy phép kinh doanh trước
ngày Thông tư 54/2006/TT-BVHTT ngày 24/5/2006 và Thông tư 69/2006/TT-BVHTT ngày
28/8/2006 của Bộ Văn hoá Thông tin có hiệu lực nhưng không đảm bảo đủ các điều
kiện quy định tại Thông tư hoặc không phù hợp với quy hoạch của địa phương thì
chỉ được phép kinh doanh đến hết thời hạn quy định trong giấy phép đã được cấp.
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi, cung cấp một cách có hệ thống những
kiến thức pháp luật chuyên ngành và thông tin đầy đủ, kịp thời những chủ trương
chính sách có liên quan đến các tổ chức, cá nhân kinh doanh; đồng thời, huy động
mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế, các cá nhân, các cơ quan, các đơn vị
trong và ngoài huyện góp phần cùng Nhà nước tổ chức các hoạt động văn hoá, đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động văn hoá theo tinh thần xã hội hoá của
Chính phủ.
2. Các tiêu chí:
- Việc quy hoạch cơ sở Karaoke phải căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội cụ thể của từng địa phương từ nay đến năm 2010 bao gồm các yếu tố về
số lượng và mật độ dân số; yêu cầu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền
thống; nhu cầu phát triển du lịch; nhu cầu và điều kiện sinh hoạt văn hoá của
nhân dân ở từng khu vực khác nhau như: thị trấn, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa; điều kiện đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Địa điểm kinh doanh Karaoke phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
+ Cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo tín ngưỡng, di tích lịch
sử - văn hoá, cơ quan hành chính Nhà nước từ 200 mét trở lên theo quy định tại
khoản 1 điều 32 và khoản 1 điều 38 của Quy chế ban hành kèm theo Nghị định
11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ.
+ Địa điểm mà các cơ quan chức năng có thể tiến hành hoạt động thanh
tra kiểm tra bình thường.
+ Điạ điểm ở khu dân cư có đường vào rộng từ 4 mét trở lên, xe cứu hoả
có thể vào được.
3. Định hướng quy hoạch trên từng địa bàn:
Đối với hoạt động karaoke: giải quyết thoả đáng theo yêu cầu kinh
doanh và hưởng thụ của các tổ chức cá nhân trên địa bàn toàn huyện, từ nay đến
năm 2010; phát triển 31 cơ sở kinh doanh Karaoke, cụ thể như sau:
- Địa bàn thị trấn Lạc Tánh: hiện có 02 cơ sở, phát triển đến
năm 2010 là 04 cơ sở.
+ Giữ nguyên hiện trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở thôn
Lạc Hoá 2 (hiện có 02 điểm).
+ Phát triển hợp lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke từ 2008 -
2010 ở các thôn: Lạc Hưng 2 (01 điểm); Lạc Thuận (01 điểm).
- Địa bàn xã Bắc Ruộng: hiện có 02 cơ sở, phát triển đến năm
2010 là 02 cơ sở.
+ Giữ nguyên hiện trạng; hạn chế cấp phép trong thời gian đến.
- Địa bàn xã Đức Bình : hiện có 01 cơ sở, phát triển đến năm
2010 là 02 cơ sở.
+ Giữ nguyên hiện trạng hoạt động kinhdoanh Karaoke ở thôn 1 (01 điểm).
+ Phát triển hợp lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke từ 2008 –
2010 ở thôn 3 (01 điểm).
- Địa bàn xã Gia Huynh: hiện có 01 cơ sở, phát triển hợp lý đến
năm 2010 là 03 cơ sở.
+ Giữ nguyên hiện trạng hoạt động kinh doanh Karaoke ở thôn 2.
+ Phát triển hợp lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke từ 2008 –
2010 ở thôn 3 (01 điểm), thôn 1 (01 điểm).
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu hưởng thụ văn hoá
của nhân dân từ nay đến năm 2010 phát triển ở một số địa phương như sau:
- Địa bàn xã Gia An : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 03 cơ
sở.
- Địa bàn xã Đức Thuận : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 02
cơ sở.
- Địa bàn xã Đồng Kho : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 03 cơ
sở.
- Địa bàn xã Huy Khiêm : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 02
cơ sở.
- Địa bàn xã Măng Tố : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 02 cơ
sở.
- Địa bàn xã Đức Tân : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 02 cơ
sở.
- Địa bàn xã Đức Phú : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 02 cơ
sở.
- Địa bàn xã Nghị Đức : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 03 cơ
sở.
- Địa bàn xã La Ngâu : phát triển hợp lý đến năm 2010 là 01 cơ
sở.
III. Tổ chức thực hiện:
1. Phòng Tài chính kế hoạch: tham mưu cho UBND huyện chỉ cấp
giấy phép kinh doanh cho các đối tượng đảm bảo các quy định tại Nghị định
11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ, Thông tư 69/2006/TT-BVHTT ngày
28/8/2006 của Bộ Văn hoá Thông tin. Lưu ý đảm bảo các thủ tục cấp giấy phép kinh
doanh theo đúng trình tự, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sinh hoạt văn hoá, vui
chơi giải trí của nhân dân.
2. Phòng Văn hoá Thông tin - Thể thao: chủ trì, phối hợp với
các ngành hữu quan tổ chức phổ biến, quán triệt Nghị định 11/2006/NĐ-CP của
Chính phủ về việc ban hành quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn
hoá công cộng; Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin. Tiếp tục tăng cường công
tác kiểm tra các hoạt động văn hoá - dịch vụ văn hoá theo hướng dẫn của Bộ VHTT
và Sở VHTT; đồng thời tham mưu UBND huyện việc duy trì và phát triển hoạt động
karaoke cũng như các dịch vụ văn hoá khác trên địa bàn toàn huyện theo quy hoạch
chung đã được UBND huyện phê duyệt.
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra các hoạt động văn hoá trên địa bàn,
định kỳ báo cáo UBND huyện và Sở VHTT theo dõi, chỉ đạo.
3. Công An huyện: phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan
đẩy mạnh hoạt động kiểm tra chuyên ngành, liên ngành; kịp thời phát hiện, xử lý
nghiêm những trường hợp vi phạm nhằm thiết thực góp phần lành mạnh hoá môi
trường kinh doanh dịch vụ văn hoá trên địa bàn huyện.
4.
UBND các xã, thị trấn: tổ chức quán triệt Nghị định 11/2006/NĐ-CP ngày
18/01/2006, Nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 của Chính Phủ, văn bản Quy
hoạch các điểm kinh doanh dịch vụ karaoke do UBND huyện ban hành cho các đối
tượng kinh doanh dịch vụ văn hoá ở địa phương; đồng thời tăng cường công tác
quản lý các dịch vụ văn hoá đảm bảo phát triển lành mạnh, đúng hướng, phù hợp
với quy hoạch của từng địa phương./.
(Theo Tánh Linh) |