user login dang ky moi
Tánh Linh tổng kết Nghị quyết số 04/2006/NQ- HĐND ngày 14/7/2006 về Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006 - 2010
29.07.2010 09:48

Thực hiện Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐND ngày 14/7/2006 của Hội đồng nhân dân huyện về Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006 - 2010 UBND huyện báo cáo tình hình triển khai và kết quả đạt được, cụ thể như sau:

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

1. Thuận lợi

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở, luôn xem công tác Dân số kế hoạch hóa gia đình (DSKHHGĐ) là nhiệm vụ quan trọng trong việc phát triển Kinh tế - xã hội của huyện.

Sự phối kết hợp thường xuyên, tích cực của các ban ngành đoàn thể. Đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên cơ sở nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm trong công tác.

Nền kinh tế của huyện phát triển khá toàn diện và đi dần vào ổn định cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tiềm năng lợi thế và các tiềm lực xã hội được khai thác, huy động tốt hơn hoạt động văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tiến bộ. Các chính sách xã hội được thực hiện tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện.

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được kế thừa và phát huy từ những thành quả, kinh nghiệm của giai đoạn 2000-2005 cơ sở vật chất và đào tạo nguồn nhân lực thường xuyên được tăng cường.

2. Khó khăn

Bên cạnh những chuyển biến tích cực vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục đó là: một số bộ phận cán bộ và nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc, đồng bào theo đạo tuy vẫn đồng tình về chính sách DSKHHGĐ của Đảng, Nhà nước, song vẫn còn lệ thuộc tập quán, tâm lý, tín ngưỡng, cá biệt có một số đối tượng còn thờ ơ, bàng quan, nên hạn chế tới chỉ tiêu hạ thấp tỷ lệ dân số chung của huyện, làm tăng thêm mối lo của xã hội.

Một số Cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa thật sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, còn khoán trắng cho cơ quan chuyên môn và các đoàn thể. Việc theo dõi, kiểm tra triển khai thực hiện ở cơ sở thiếu thường xuyên, liên tục, thiếu kiên quyết trong xử lý đối với một số trường hợp vi phạm. Nhận thức của số ít cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Nghị quyết chưa cao, chưa đều giữa các vùng và các đối tượng, nhận thức của một bộ phận nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chuyển biến chưa rõ.

Bộ máy tổ chức và cán bộ chuyên trách DSKHHGĐ thiếu ổn định các chế độ, định mức chi, mức đầu tư cho công tác DSKHHGĐ tuy có tăng, nhưng chưa đáng kể.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỤC TIÊU NGHỊ QUYẾT ĐỀ RA

1. Kết quả thực hiện các mục tiêu đã đề ra

Nhận thức của toàn xã hội về chính sách DSKHHGĐ đã có bước chuyển biến, quy mô gia đình chấp nhận từ một hoặc hai con ngày càng rộng rãi, chủ yếu là lớp trẻ, các điều kiện về chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình không ngừng được nâng cao, cải thiện, tốc độ gia tăng dân số quá nhanh có phần được khống chế, áp lực về quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã được giảm nhẹ. Tình hình biến động dân số trong thời gian gần đây có phần chững lại, những kết quả đạt được cụ thể như sau:

- Quy mô dân số: 105.420 người, đạt so với mục tiêu của huyện (110.000 người).

- Số con bình quân của mỗi phụ nữ (TFR): Ở mức 2,2 con vào năm 2009 (mục tiêu của Nghị quyết năm 2010: 2 con).

- Tỷ suất sinh: Từ 15,9 %o vào năm 2006 giảm còn 15 %o vào năm 2010.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: Từ 1,34 % năm 2006 giảm xuống còn 1,12 % năm 2010. Mục tiêu của huyện là 1,14%.

- Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên: Từ 19,9 % vào năm 2006 giảm còn 18,5% vào năm 2010.

- Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai: Từ 70,3% vào năm 2006 tăng lên 89 % vào năm 2010.

- Tỷ lệ dân cư được đăng ký vào cơ sở dữ liệu dân cư: Từ 30% vào năm 2006 tăng lên 98% vào năm 2010.

2. Kết quả triển khai các giải pháp

2.1. Lãnh đạo tổ chức quản lý

- Về thực hiện vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương: Cấp ủy, chính quyền luôn có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện tốt công tác dân số -Kế hoạch hoá gia đình, xem chương trình không chỉ là nhiệm vụ bức xúc trước mắt, mà còn là vấn đề cơ bản lâu dài gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của cấp mình, ngành mình. Ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết và các văn bản khác để triển khai công tác DSKHHGĐ với những mục tiêu và cách làm cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, từng đơn vị thường xuyên kiểm tra, đánh giá và phân công cán bộ chủ chốt trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số - Kế hoạch hoá gia đình.

Nhiều địa phương đã triển khai những quy định cụ thể về các chính sách DSKHHGĐ, gắn việc thực hiện công tác dân số với một số chế độ, chính sách như huy động ngày công nghĩa vụ lao động, xây dựng trường học, vay vốn xóa đói giảm nghèo… được nhân dân đồng tình ủng hộ. Cấp ủy chính quyền các cấp đã tổ chức nhiều đợt khảo sát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết ở cơ sở.

Đa số cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức lao động là những người gương mẫu, luôn đi đầu trong việc thực hiện Kế hoạch hoá gia đình, tuy nhiên vẫn còn một số cán bộ, đảng viên vi phạm sinh con thứ 3 trở lên. Trong thời gian gần đây khi Pháp lệnh dân số ra đời và lúc ngành dân số có sự tách, sát nhập, có những tư tưởng lệch lạc, dẩn đến sự hiểu nhầm hoặc cố tình hiểu nhầm chính sách của Đảng và Nhà nước về DSKHHGĐ.

Việc xử lý vi phạm chính sách DSKHHGĐ trong Đảng viên thực hiện theo Quy định của Tỉnh ủy đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo Quyết định 04/2005/QĐ-UBBT ngày 20/01/2005 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc ban hành “ Quy định về Chính sách dân số” trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Xử lý vi phạm chính sách DSKHHGĐ trong cán bộ, đảng viên được các cơ sở, ngành, địa phương nghiêm túc thực hiện tạo điều kiện thuận lợi trong vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện KHHGĐ.

- Về kiện toàn bộ máy, cán bộ và nâng cao năng lực quản lý:

Tháng 7/2008 Trung tâm DSKHHGĐ huyện được thành lập trên cơ sở tách ra từ Phòng Y tế huyện theo Thông tư 05/2008/TT-BYT ngày 14/5/2008 của Bộ Y tế, đến nay cơ quan Thường trực có 06 người, trong đó: 05 biên chế, 01 hợp đồng. Ban chỉ đạo công tác DSKHHGĐ huyện có 17 thành viên là lãnh đạo các cơ quan, ban ngành đoàn thể huyện.

Ở 14/14 xã, thị trấn đều thành lập Ban dân số, gia đình và trẻ em Trưởng ban là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã, 01 cán bộ chuyên trách, thành viên là các ban ngành, đoàn thể như Thanh niên, Hội Nông dân, Tư pháp, Hội Phụ nữ, Trưởng các thôn, khu phố… bình quân mỗi xã, thị trấn có 15 thành viên.

Có 14 Cán bộ chuyên trách, 208 Cộng tác viên cơ sở luôn được củng cố, kiện toàn, đảm bảo quản lý 100% địa bàn dân cư trong toàn huyện. Hàng năm đều tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên ngành cho đội ngũ này nhằm để đáp ứng tốt hơn theo yêu cầu trong tình hình hiện nay.

Nhìn chung, bộ máy tổ chức dân số, gia đình và trẻ em hoạt động nhịp nhàng từ huyện đến cơ sở, phát huy tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên có ý thức trách nhiệm cao, năng nổ, nhiệt tình với công việc, thường xuyên nắm được tình hình biến động dân số, cập nhật báo cáo thống kê chuyên ngành độ chính xác cao, nắm tình hình thực hiện các biện pháp KHHGĐ ở địa bàn, tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền vận động trực tiếp đối tượng. Hướng dẫn đối tượng và phân phát các phương tiện tránh thai phi lâm sàng, góp phần rất lớn trong việc hoàn thành thực hiện các chỉ tiêu DSKHHGĐ ở cơ sở.

Khó khăn lớn nhất hiện nay là đội ngũ cán bộ chuyên trách xã, thị trấn chưa được bố trí ổn định đang chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt chuyển cán bộ chuyên trách Dân số, Gia đình và Trẻ em thành cán bộ chuyên trách DSKHHGĐ cấp xã, thị trấn thêm vào đó 80% cán bộ chuyên trách lâu năm, lớn tuổi không đủ chuẩn phải nghĩ việc hoặc chuyển công tác khác, gây nên tư tưởng không ổn định, không nhiệt tình với công việc như trước đây.

2.2. Đánh giá về sự phối hợp liên ngành và các đoàn thể để thực hiện Nghị quyết

Công tác tuyên truyền vận động, giáo dục công tác DSKHHGĐ đã được thực hiện bằng nhiều hình thức qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc tuyên truyền vận động trực tiếp đến từng đối tượng. Thường xuyên kết hợp với đài Truyền thanh - Truyền hình huyện để phát các chuyên trang phản ánh các vấn đề về chủ trương, chính sách, về dân số và phát triển, các kiến thức về các biện pháp tránh thai, các gương người tốt việc tốt, tin hoạt động… Đồng thời lồng ghép các chuyên mục như: Môi trường, Giáo dục, Y tế, Chăm sóc trẻ em, Nông dân… Hệ thống truyền thông đại chúng đã thường xuyên tác động trực tiếp đến các đối tượng ở nhiều vùng khác nhau, là điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chương trình.

Các ngành Y tế, Văn hoá và Thông tin, Giáo dục, Mặt trận và các đoàn thể thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với Trung tâm DSKHHGĐ huyện tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm làm thay đổi nhận thức của các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú, Hội Nông dân với “Câu lạc bộ gia đình nông dân 6 tiêu chuẩn” Đoàn Thanh niên với “Câu lạc bộ tiền hôn nhân”, “Câu lạc bộ gia đình trẻ” Hội Phụ nữ với “Nhóm phụ nữ thực hiện KHHGĐ”, “Tổ phụ nữ tiết kiệm”…

Trong quá trình tổ chức thực hiện cuộc vận động xây dựng cuộc sống mới - nếp sống văn hoá ở cơ sở, UBMTTQ huyện và ngành Văn hoá thông tin chú trọng đến chuẩn mực gia đình ít con, thực hiện tốt KHHGĐ, coi đây là một tiêu chuẩn xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa được đông đảo tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng.

Ký kết Chương trình phối hợp liên tịch giữa ngành Dân số với Phòng Tư pháp, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh Niên, Hội Cựu chiến binh, UBMTTQ huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện về Chương trình phối hợp công tác dân số, Gia đình và trẻ em giai đoạn 2005 -2010.

2.3. Về công tác tuyên truyền, vận động giáo dục

Công tác thông tin giáo dục truyền thông thực hiện có hiệu quả, cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho mọi đối tượng nhằm nâng cao nhận thức và hạn chế mức sinh. Xây dựng các chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng về DSKHHGĐ, các thông tin chuyển tải phong phú về nội dung cũng như hình thức, góp phần giáo dục và tạo sự chuyển biến trong nhận thức về lợi ích của DSKHHGĐ. Hoạt động truyền thông đã huy động được nhiều lực lượng tham gia, thể hiện tính xã hội hoá cao về công tác DSKHHGĐ trong thời gian qua.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục làm thay đổi nhận thức, tập quán sinh đẻ trong nhân dân vận động toàn xã hội chấp nhận và thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con chú trọng việc tuyên truyền, vận động trực tiếp tại cộng đồng, từng gia đình, từng nhóm đối tượng, đặc biệt là những cặp vợ chồng đã có từ 2 con trở lên, những gia đình sinh con một bề, những cặp vợ chồng trẻ mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản và KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến khen thưởng những gia đình có nhiều thế hệ chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước về DSKHHGĐ .

Thực hiện đồng bộ các hoạt động truyền thông, hàng năm Trung tâm DSKHHGĐ huyện đều ký kết hợp đồng hoạt động tuyên truyền với đài TT-TH huyện xây dựng chuyên mục DSKHHGĐ phát trên kênh truyền hình và phát thanh vào thứ năm hàng tuần. Đặc biệt, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trực tiếp tại cơ sở, chú trọng tư vấn đối thoại thông qua mạng lưới cộng tác viên, tuyên truyền viên cơ sở, cán bộ chuyên trách và cán bộ y tế. Nhiều cộng tác viên hàng năm đã vận động được 30 cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai được UBND tỉnh khen thưởng. Chú trọng xây dựng mới và tu dưỡng các panô tuyên truyền về công tác DSKHHGĐ trên địa bàn toàn huyện nhằm tăng cường hiệu quả về công tác tuyên truyền trực quan về công tác này. Cung cấp hàng ngàn tờ rơi, áp phích, sách báo, băng đĩa tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ đầy đủ cho mọi đối tượng…

Xây dựng thôn, khu phố không có người sinh con thứ 3 trở lên: Từ 26 thôn năm 2006 tăng lên 39 thôn, khu phố vào năm 2010, năm 2009 có 6 thôn không có người sinh con thứ 3 trở lên được khen thưởng.

Xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thấp dưới 15% được UBND tỉnh khen , năm 2008 xã Bắc Ruộng, năm 2009 có 2 xã Nghị Đức, Bắc Ruộng.

Toàn huyện có 11 pa nô tuyên truyền trực quan với diện tích 188 m2, hiện có một số pa nô đang xuống cấp đang sữa chữa thay đổi logo mới.

14 xã, thị trấn hàng năm đều được cấp bổ sung trang thiết bị truyền thông như tivi, Cassett, Loa thùng, Micro, Âmly Califor, Loa điện cầm tay…

Xây dựng 3 xã điểm về mô hình giáo dục, khám sức khỏe và tư vấn tiền hôn nhân cho vị thành niên từ 15-24 tuổi (trong và ngoài trường học) tại 03 xã Nghị Đức, Đức Thuận và Bắc Ruộng thành lập 18 câu lạc bộ tiền hôn nhân, mỗi câu lạc bộ 30 người, các nhóm đối tượng được sinh hoạt, tư vấn, được cung cấp các thông tin về sức khỏe vị thành niên, hàng năm Trung tâm DSKHHGĐ huyện đều ký kết hợp đồng khám sức khỏe từ 300 - 400 em và thực hiện các xét nghiệm cơ bản… Ngoài ra mỗi xã còn được cấp trang thiết bị truyền thông như: tivi, đầu máy, âmly, tủ truyền thông, sách báo…

Hàng năm phối hợp với Trung tâm tư vấn, dịch vụ dân số, gia đình và trẻ em tỉnh, Phòng Truyền thông tỉnh tổ chức các buổi tư vấn nhóm, nói chuyện chuyên đề tại các địa bàn dân cư có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao.

2.4. Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ

Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình: Đảm bảo cung cấp đầy đủ các dịch vụ KHHGĐ và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, các phương tiện tránh thai an toàn, thuận tiện, có chất lượng cho các đối tượng sử dụng chú trọng nâng cao trình độ cán bộ cung cấp dịch vụ tăng cường các chiến dịch tuyên truyền, vận động lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ và phòng, chống HIV/AIDS.

Hàng năm phối hợp với Trung tâm tư vấn dịch vụ dân số, Gia đình và trẻ em tỉnh, Trung tâm y tế huyện huyện thành lập các Đội dịch vụ lưu động tổ chức 2 đợt chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản- KHHGĐ đến vùng có mức sinh cao, tỷ lệ sinh con thứ 3 cao và vùng khó khăn trên địa bàn 14/14 xã, thị trấn. Tổ chức tư vấn nhóm, tư vấn trực tiếp nâng cao kiến thức về phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, làm mẹ an toàn, chấp nhận quy mô gia đình nhỏ, thực hiện biện pháp tránh thai. Mở rộng và đưa đội cung cấp dịch vụ lưu động về tới vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để dân tiếp cận, đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ và tư vấn SKSS/KHHGĐ. Triển khai các mô hình cung ứng dịch vụ thích hợp với từng địa bàn, từng nhóm đối tượng, tập trung vào những nhóm đối tượng có mức sinh cao. Tăng tỷ lệ phụ nữ khám thai ít nhất 3 lần trong một đợt mang thai, được đỡ đẻ an toàn, tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ.

Cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về các biện pháp tránh thai (BPTT) giúp người dân có cơ hội lựa chọn các BPTT thích hợp, khuyến khích các BPTT tạm thời cho nhóm tuổi trẻ, BPTT vĩnh viễn cho người nhiều con, ưu tiên hướng dẫn sử dụng BPTT hiện đại nâng cao hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản của mình, mở rộng phạm vi khám và điều trị các bệnh lây qua đường tình dục, hàng năm giảm tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục.

2.5. Về kết quả nâng cao chất lượng dân số

Nâng cao chất lượng dân số phát động và duy trì phong trào rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh và cải thiện môi trường sống tại cộng đồng tăng cường các hoạt động tư vấn tiền hôn nhân thử nghiệm mô hình phát hiện sớm các bệnh hiểm nghèo ở trẻ sơ sinh mở rộng mô hình nâng cao chất lượng dân số tại cộng đồng đẩy mạnh phòng, chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng mở rộng các dịch vụ chăm sóc người già, người tàn tật ưu tiên triển khai các chương trình, dự án nâng cao chất lượng cuộc sống đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng nghèo, vùng khó khăn, người di cư và các nhóm đối tượng thiệt thòi.

2.6. Nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu dân cư

Việc cung cấp thông tin DSKHHGĐ được duy trì thường xuyên, chất lượng thông tin ngày càng tốt hơn đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý điều hành, đánh giá tình hình thực hiện công tác DSKHHGĐ.

Thu thập thông tin từ cơ sở nhập vào dữ liệu dân cư được thực hiện thường xuyên, đến nay đã cập nhật 98% dữ liệu dân cư vào máy tính, thông tin của từng hộ, từng cá nhân của hầu hết dân cư trong huyện được thu thập, lưu trữ góp phần đánh giá tình hình phát triển dân số, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

2.7. Về chính sách và đầu tư nguồn nhân lực

Nguồn kinh phí của Trung ương và tỉnh đầu tư cho công tác dân số -KHHGĐ quản lý sử dụng chặt chẽ, đúng chủ trương, sử dụng đúng đối tượng và đúng mục đích, nguồn kinh phí được phân bổ công khai hàng năm. Các chế độ cho đối tượng, thù lao cộng tác viên… đều cấp đúng, đủ và kịp thời. Việc kiểm soát chi nguồn ngân sách cho công tác DSKHHGĐ được cơ quan tài chính, Kho bạc kiểm tra chặt chẽ.

2.8. Thi đua khen thưởng

Hàng năm ngoài việc chọn 1 hoặc 2 xã xuất sắc khen thưởng 3 triệu đồng theo Thông tư Liên tịch số 32/2008/TTLT-BTC-BYT ngày 17/4/2008 giữa Bộ Y tế và Bộ Tài chính còn khen những xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thấp dưới 15%, những cá nhân vận động 30 cặp vợ chồng trở lên thực hiện các biện pháp tránh thai theo Quyết định 04/2005/QĐ-UBBT ngày 20/01/2005 của UBND tỉnh Bình Thuận Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh khen cá nhân, tập thể xuất sắc trong đợt Chiến dịch, hoàn thành chỉ tiêu năm, cá nhân tiên tiến… Ngoài ra hàng năm huyện tổ chức ký kết thi đua khen thưởng với Ban dân số các xã, thị trấn về hoàn thành sớm các chỉ tiêu trong năm.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Ưu điểm:

Nhìn chung, qua 5 năm (2006-2010) thực hiện Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐND, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác DSKHHGĐ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện chính sách DSKHHGĐ, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cấp bách. Nghị quyết đã được các cấp, các ngành, các địa phương tổ chức quán triệt, triển khai đến mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân nhận thức của hầu hết cán bộ Đảng viên, công nhân viên chức và phần lớn nhân dân đã có chuyển biến tốt, số người tự nguyện áp dụng các biện pháp tránh thai để có quy mô gia đình ít con khỏe mạnh, hạnh phúc ngày càng tăng. Tỷ lệ sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hàng năm giảm đáng kể, hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, góp phần tăng tốc độ phát triển kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm đáng kể hộ nghèo, đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.

2. Khuyết điểm, tồn tại

Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa thật sự vững chắc, tỷ lệ phát triển dân số vẫn còn cao và không đồng đều ở các địa phương, tình trạng di dân tự do ở một số vùng gây khó khăn cho việc quản lý, theo dõi biến động dân số. Nhận thức của một bộ phận nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chưa đầy đủ về công tác DSKHHGĐ, số ít người chưa xoá được những quan niệm cũ lạc hậu.

Công tác tuyên truyền, giáo dục còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, một số cán bộ chưa thật sự quan tâm hoặc thờ ơ với công tác này việc tuyên truyền vận động ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chưa thường xuyên gặp rất nhiều khó khăn, trình độ nhận thức của người dân chưa cao.

Nhận thức của các tầng lớp nhân dân chưa thay đổi căn bản, tâm lý còn muốn đông con ở một số bộ phận nhân dân, phải có con trai còn rất nặng nề. Đồng thời, những yếu tố kinh tế - xã hội và lối sống vẫn tạo ra nhu cầu đông con, thực tế trong thời gian qua, việc sinh con thứ 3 trở lên chủ yếu tập trung ở những cặp vợ chồng có con một bề.

Đầu tư cho chương trình truyền thông, kinh phí còn thấp, chưa đáp ứng theo như chương trình kế hoạch đề ra, việc duy trì các mô hình gặp nhiều khó khăn do không đáp ứng đủ kinh phí hoạt động.

3. Nguyên nhân của ưu điểm và khuyết điểm

Nguyên nhân của những kết quả đạt được:

Sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở, từ việc quán triệt, triển khai học tập đến kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện Nghị quyết. Gắn liền việc thực hiện tốt công tác DSKHHGĐ với công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đây là một tiêu chuẩn đánh giá cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Gắn kết việc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm đưa nội dung DSKHHGĐ vào sinh hoạt kiểm điểm, ngoài ra còn áp dụng trong tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh, gia đình văn hóa…

Sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, nhất là trong công tác tuyên truyền vận động, các ban ngành, đoàn thể đã tích cực lồng ghép tuyên truyền vận động về DSKHHGĐ với việc xây dựng, củng cố tổ chức hoạt động của đoàn thể mình.

Sự cố gắng năng nổ nhiệt tình của đội ngũ làm công tác dân số, đặc biệt là ở cơ sở, làm việc với sự tinh thần trách nhiệm cộng với nhiệt tình là chính, đội ngũ này tuyên truyền, vận động, tư vấn thường xuyên ở cơ sở góp phần rất lớn trong việc hoàn thành các chỉ tiêu đề ra.

Nguyên nhân của những yếu kém tồn tại:

Các cấp ủy đảng tuy có quan tâm nhưng chưa tập trung đầu tư chỉ đạo thường xuyên và cụ thể đối với công tác DSKHHGĐ, chưa chủ động gắn chương trình DSKHHGĐ với các cuộc vận động, các chương trình kinh tế xã hội khác.

Sự chủ quan thỏa mãn với những kết quả đã đạt được, dẫn đến trì trệ, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo công tác DSKHHGĐ ở nhiều ngành, nhiều cơ sở ít sự quan tâm đến việc ban hành chính sách, biện pháp để thực hiện công tác DSKHHGĐ.

Việc nới lỏng nhanh chóng các biện pháp hành chính, biện pháp khuyến khích và không khuyến khích đã tạo nên sự lỏng lẻo trong việc thực hiện mục tiêu. Khi kết quả giảm sinh đang tiến triển tốt thì kinh phí để chi trả theo chế độ khuyến kích lại hạn chế.

Kinh phí thực hiện cho chương trình DSKHHGĐ chủ yếu là nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia vì vậy rất khó khăn trong việc triển khai huy động thêm nguồn kinh phí khác cho hoạt động của chương trình.

4. Kinh nghiệm rút ra

Qua quá trình thực hiện Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐND ngày 14/7/2006 của Hội đồng nhân dân huyện về Chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006 - 2010, mặc dù còn những hạn chế nhất định, song qua thực tế chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện chính sách DSKHHGĐ cho những năm tiếp theo, đó là:

- Cấp ủy, chính quyền các cấp phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện, định kỳ sơ tổng kết, phát hiện, biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể tiêu biểu, kịp thời uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc và xử lý nghiêm các trừơng hợp vi phạm chính sách DSKHHGĐ phải thực sự coi trọng công tác DSKHHGĐ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng chứ không phải riêng của một ngành nào.

- Phải coi trọng việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết trong cán bộ đảng viên và nhân dân làm tốt công tác tuyên truyền vận động, làm cho mọi người hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện KHHGĐ và quy mô gia đình ít con coi trọng nội dung tuyên truyền, tạo ra nhiều loại hình phong phú, sinh động phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng địa bàn. Song song với tuyên truyền bề nổi cần chú trọng tới tuyên truyền giáo dục bề sâu thông qua kênh trực tiếp đến từng đối tượng, điều tra nắm chắc từng nhóm đối tượng để có biện pháp, hình thức, nội dung tuyên truyền vận động thích hợp, có hiệu quả.

- Các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra chương trình hành động cụ thể, sát hợp với tình hình thực tế của từng ngành, từng địa phương. Đặc biệt, phát huy vai trò quản lý điều hành của nhà nước, phải phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban ngành, mặt trận, đoàn thể với các cơ quan chuyên môn nhằm thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động gắn lồng ghép thực hiện công tác DSKHHGĐ với chăm sóc sức khỏe nhân dân và các chương trình kinh tế - xã hội khác.

- Phải xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số năng động, nhiệt tình có năng lực để thực hiện thành thạo các yêu cầu đặt ra, coi trọng xây dựng đội ngũ cộng tác viên đủ mạnh về số lượng, chất lượng, có kinh nghiệm, nhiệt tình thường xuyên bám sát địa bàn dân cư, đảm bảo các điều kiện an toàn kỷ thuật trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai.

IV. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm củng cố tổ chức bộ máy làm công tác DSKHHGĐ cấp xã, thị trấn để công tác này hoạt động ổn định, xuyên suốt đảm bảo không để công tác này thả lỏng, gây hạn chế và nguy cơ bùng nổ dân số trong thời gian tới./.


(Theo UBND Huyện TL)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email




Những bản tin khác:



 Lịch vạn sự 
Tháng
Năm 

Danh ngôn:
Dụng nhân như dụng mộc
Khổng Tử
 Đăng nhập gởi bài viết 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Kiến thức nhà nông 
 Danh ngôn 
Hạnh phúc giống như tiếng vang, chỉ nghe được tiếng trả lời mà không bao giờ thấy đến.
Carmen Sylva
 Bài viết nổi bật