Tánh Linh tổng kết Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐND huyện về Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010
29.07.2010 09:42
I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO 1. Công tác chỉ đạo triển khai
- Về tư tưởng chỉ đạo thông qua các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, các xã đặc biệt khó khăn nâng cao dân trí cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ý thức tự lực vươn lên khắc phục tư tưởng ỷ lại trông chờ sự hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời thực hiện các hình thức như vay vốn “xóa đói giảm nghèo” của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn tạo điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất, tăng mức thu nhập nhằm ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo.
- Về vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội đã phối hợp với chính quyền địa phương điển hình là: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh bằng các phong trào hoạt động cụ thể, thiết thực của tổ chức mình đã nắm bắt, tuyên truyền vận động trong nhân dân, người lao động các hội viên cốt cán của các đoàn thể dấy lên phong trào tương thân, tương ái giúp nhau làm kinh tế gia đình như chuyển đổi mô hình làm ăn có hiệu quả kinh tế cao… Từ đó đưa gương những người điển hình sản xuất giỏi vươn lên thoát nghèo nhằm nâng cao ý thức cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân qua đó đa số các gia đình hộ nghèo đã từng bước gắn với cộng đồng dân cư và tích cực tham gia các tổ chức quần chúng, tự nguyện vào các tổ liên doanh vay vốn tín dụng, tổ góp vốn chi hội điều đó khẳng định chủ trương giảm nghèo đang được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.
2. Kết quả thực hiện các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
a. Kết quả giảm nghèo theo Nghị quyết đề ra:
Qua 05 năm thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐND ngày 14/7/2006 của Hội đồng nhân dân huyện khoá VI, về cơ bản các chỉ tiêu đề ra đã thực hiện đạt kết quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 18,20% xuống còn 6,96% (đầu năm 2010) so với tổng số hộ toàn huyện, giảm 11,24%, cụ thể như sau:
* Kết quả giảm nghèo năm 2006:
- Số hộ nghèo đầu kỳ: 3.628 hộ/14.955 khẩu, chiếm tỷ lệ 18,20%.
- Số hộ thoát nghèo: 563 hộ/2.273 khẩu (trong đó: DTTS 95 hộ/445 khẩu).
- Số hộ tái nghèo: 31 hộ/151 khẩu.
- Số hộ nghèo phát sinh mới: 270 hộ/996 khẩu (trong đó: DTTS có 27 hộ/149 khẩu).
- Số hộ nghèo cuối kỳ: 3.366 hộ/13.829 khẩu, chiếm tỷ lệ 16,88%.
Số hộ giảm nghèo năm 2006 so với kế hoạch đạt được 1,32%, như vậy so với kế hoạch đề ra thì số hộ nghèo trên địa bàn huyện hiện còn 16,88% chưa đạt chỉ tiêu đề ra. (Chỉ tiêu kế hoạch năm 2006 giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 15,56%, bình quân năm giảm 2,64%/năm).
* Kết quả giảm nghèo năm 2007:
- Số hộ nghèo đầu kỳ: 3.366 hộ/13.829 khẩu, chiếm tỷ lệ 16,88%.
- Số hộ thoát nghèo: 1.163 hộ/5.753 khẩu (trong đó: DTTS có 491 hộ/3.240 khẩu).
- Số hộ tái nghèo: 81hộ/344 khẩu (trong đó: DTTS 17 hộ/89 khẩu).
- Số hộ nghèo phát sinh mới: 211 hộ/729 khẩu (trong đó: DTTS có 78 hộ/293 khẩu).
- Số hộ nghèo cuối kỳ: 2.495 hộ/9.149 khẩu, chiếm tỷ lệ 10,97%
Số hộ giảm nghèo năm 2007 so với kế hoạch đạt được 5,91%, như vậy so với kế hoạch đề ra thì số hộ nghèo trên địa bàn huyện hiện còn 10,97% đạt chỉ tiêu đề ra. (Chỉ tiêu kế hoạch năm 2007 giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 11,88%, bình quân năm giảm 5% /năm).
* Kết quả giảm nghèo năm 2008:
- Số hộ nghèo đầu kỳ: 2.495 hộ/9.804 khẩu, chiếm tỷ lệ 10,97%.
- Số hộ thoát nghèo: 685 hộ/2.677 khẩu (trong đó: DTTS 199 hộ/847 khẩu).
- Số hộ tái nghèo: 25 hộ/108 khẩu (trong đó: DTTS 04 hộ/22 khẩu).
- Số hộ nghèo phát sinh mới: 250 hộ/940 khẩu (trong đó: DTTS 81 hộ/402 khẩu).
- Số hộ nghèo cuối kỳ: 2.085 hộ/8.175 khẩu, chiếm tỷ lệ 9,16%
Số hộ nghèo giảm năm 2008 so với kế hoạch đạt được là 1,81%, như vậy so với kế hoạch đề ra thì số hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 9,16% chưa đạt chỉ tiêu đề ra (Chỉ tiêu kế hoạch năm 2008 giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 7,97%, bình quân năm giảm 3%/năm).
* Kết quả giảm nghèo năm 2009:
- Số hộ nghèo đầu kỳ: 2.085 hộ/8.175 khẩu, chiếm tỷ lệ 9,16%.
- Số hộ thoát nghèo: 730 hộ/3.286 khẩu (trong đó: DTTS có 237 hộ/1.187 khẩu).
- Số hộ tái nghèo: 93 hộ/352 khẩu (trong đó: DTTS 30 hộ/162 khẩu).
- Số hộ nghèo phát sinh mới: 255 hộ/1.192 khẩu (trong đó: DTTS 80 hộ/316 khẩu).
- Số hộ nghèo cuối kỳ: 1.703 hộ/6.487 khẩu, chiếm tỷ lệ 6,96%
Số hộ nghèo giảm năm 2009 so với kế hoạch đạt được là 2,2%, như vậy so với kế hoạch đề ra thì số hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 6,96% đạt chỉ tiêu đề ra (Chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 7%, bình quân năm giảm 2,16%/năm).
* Ước kết quả giảm nghèo năm 2010:
- Số hộ nghèo đầu kỳ: 1.703 hộ/6.487 khẩu, chiếm tỷ lệ 6,96%.
- Ước số hộ nghèo cuối kỳ 1.220 hộ, chiếm tỷ lệ 5%.
Ước số hộ nghèo giảm năm 2010 so với kế hoạch đạt được là 1,96%, như vậy so với kế hoạch đề ra thì số hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 5% đạt chỉ tiêu đề ra (Chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn 5%, bình quân năm giảm 1,96%/năm).
b. Kết quả Hỗ trợ nhà ở cho người nghèo giai đoạn 2006 - 2010:
Thực hiện Quyết định 134, 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các chủ trương của tỉnh, trong 05 năm qua (2006-2010) huyện đã chỉ đạo việc triển khai thực hiện xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tại địa phương với số lượng là 1.352 căn nhà (trong đó hộ nghèo thuộc diện dân tộc thiểu số là 750 căn nhà, hộ dân tộc kinh là 602 căn nhà), với tổng số kinh phí hỗ trợ là 21.941,5 triệu đồng, đạt 102% chỉ tiêu tỉnh giao.
- Kết quả hỗ trợ nhà ở hộ nghèo năm 2006: Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở trong năm 2006 là 155 căn nhà (trong đó 153 hộ dân tộc thiểu số, 02 hộ dân tộc kinh) với tổng số tiền là 1.226 triệu đồng (Nguồn ngân sách Trung ương cấp hỗ trợ 765 triệu đồng nguồn Quỹ “VNN” của huyện, xã 381 triệu đồng nguồn vận động khác 80 triệu đồng) như vậy so với kế hoạch đạt 101%. (Kế hoạch là phấn đấu năm 2006 hỗ trợ 153 hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, nhà dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện nhà ở).
- Kết quả hỗ trợ nhà ở hộ nghèo năm 2007: Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở trong năm 2007 là 280 căn nhà (trong đó 197 hộ dân tộc thiểu số, 83 hộ dân tộc kinh) với tổng số tiền là 2.436 triệu đồng (Nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ là 300 triệu đồng nguồn ngân sách tỉnh cấp hỗ trợ 1.284 triệu đồng nguồn Quỹ “VNN” cấp tỉnh 100 triệu đồng, nguồn Quỹ “VNN” của huyện, xã 600 triệu đồng nguồn vận động khác 152 triệu đồng) như vậy so với kế hoạch đạt 106%. (Kế hoạch là phấn đấu năm 2007 hỗ trợ 264 hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, nhà dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện nhà ở).
- Kết quả hỗ trợ nhà ở hộ nghèo năm 2008: Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở trong năm 2008 là 433 căn nhà (trong đó 233 hộ dân tộc thiểu số, 200 hộ dân tộc kinh) với tổng số tiền là 6.510 triệu đồng (Nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ là 1.690 triệu đồng, Nguồn Quỹ “VNN” cấp tỉnh hỗ trợ 2.100 triệu đồng nguồn quỹ “VNN” của huyện, xã 500 triệu đồng nguồn vận động khác 45 triệu đồng gia đình đóng góp 2.175 triệu đồng) như vậy so với kế hoạch đạt 100,9%. (Kế hoạch là phấn đấu năm 2008 hỗ trợ 429 hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, nhà dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện nhà ở).
- Kết quả hỗ trợ nhà ở hộ nghèo năm 2009: Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở trong năm 2009 là 454 căn nhà (trong đó 156 hộ dân tộc thiểu số, 298 hộ dân tộc kinh) với tổng số tiền là 11.319,5 triệu đồng (Nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ là 1.608 triệu đồng nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ 1.415 triệu đồng nguồn Quỹ “VNN” cấp tỉnh hỗ trợ 2.700 triệu đồng nguồn Quỹ “VNN” của huyện, xã 598 triệu đồng nguồn vận động khác 65,5 triệu đồng gia đình đóng góp 4.413 triệu đồng, nguồn vay ngân hàng chính sách xã hội 520 triệu đồng) như vậy so với kế hoạch đạt 101%. (Kế hoạch là phấn đấu năm 2009 hỗ trợ 448 hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, nhà dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện nhà ở).
- Kết quả hỗ trợ nhà ở hộ nghèo 6 tháng đầu năm 2010: Số hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện nhà ở trong 6 tháng đầu năm 2010 là 30 căn nhà (trong đó 11 hộ dân tộc thiểu số, 19 hộ dân tộc kinh) với tổng số tiền là 450 triệu đồng (Nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ 435 triệu đồng nguồn bảo đảm xã hội năm 2010 của huyện là 15 triệu đồng) như vậy so với kế hoạch đạt 50%. (Kế hoạch là phấn đấu năm 2010 hỗ trợ 60 hộ nghèo đang ở nhà tạm bợ, nhà dột nát và chưa có nhà ở được cải thiện nhà ở).
c. Kết quả vận động Quỹ Vì người nghèo:
Tổng nguồn Quỹ “Ngày vì người nghèo” của toàn huyện đã huy động được trong 05 năm (2006-2010) là: 1.570.659.000 đồng. Cụ thể:
+ Vận động cấp huyện: 858.067.000 đồng.
+ Vận động cấp xã, thị trấn: 712.592.000 đồng.
d. Chính sách hỗ trợ cho người nghèo:
- Hỗ trợ tiền Tết cho người nghèo: Thực hiện Quyết định số 81/QĐ-TTg ngày 15/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ kinh phí cho hộ nghèo, huyện đã tiến cấp phát cho 2.045 hộ/8.009 khẩu thuộc diện nghèo với tổng số tiền hỗ trợ: 1.447.800.000 đồng.
- Hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi trường: Hỗ trợ hộ nghèo cải thiện vệ sinh môi trường năm 2009 theo Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 04 xã có hộ nghèo dân tộc thiểu số gồm: xã Đức Phú, Măng Tố, La Ngâu, Suối Kiết với 293 hộ, với tổng số tiền là 293 triệu đồng.
- Hỗ trợ kinh phí cho hộ nghèo vùng khó khăn: Thực hiện Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ cho hộ nghèo vùng khó khăn, huyện đã tiến hành trợ cấp cho hộ nghèo của 05 xã gồm: Đức Phú, Măng Tố, La Ngâu, Gia Huynh, Suối Kiết với 474 hộ/1.976 khẩu, tổng số tiền 158.080.000 đồng.
e. Chính sách hỗ trợ về y tế:
Cấp thẻ BHYT cho 16.156 lượt người nghèo, nhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người nghèo được quan tâm, chất lượng khám chữa bệnh ở các tuyến có chuyển biến tích cực, không gây phiền hà cho nhân dân.
Tuy nhiên, việc lập hồ sơ đề nghị cấp thẻ BHYT cho người nghèo các địa phương triển khai còn chậm, sai sót nhiều dẫn tới việc cấp thẻ BHYT cho người nghèo không liên tục, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nghèo trong tiếp cận dịch vụ y tế. Mức tiền được giảm khám điều trị bệnh cho người nghèo còn thấp, nhất là đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú đa số người nghèo điều trị tại tuyến xã, công tác khám chữa bệnh chưa được quan tâm đúng mức, thuốc chữa bệnh chủ yếu là các loại thông thường nên khả năng chữa trị các bệnh của người nghèo hiệu quả còn thấp.
g. Hỗ trợ dạy nghề:
- Trong thời gian qua việc thực hiện dạy nghề ở địa phương có chuyển biến, trong 05 năm đã tổ chức dạy nghề cho 429 người thuộc diện nghèo (trong đó có 376 người là dân tộc thiểu số, 53 người dân tộc kinh) với các ngành nghề chăn nuôi, thú y, may công nghiệp, khai thác cao su...
- Tuy nhiên, công tác dạy nghề cho người nghèo còn thấp, do công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo (trong đó có chính sách dạy nghề) chưa được thường xuyên, nên nhiều người nghèo chưa nắm bắt được các chế độ ưu đãi của Nhà nước đối với họ. Mặc khác Trung tâm dạy nghề chưa nghiên cứu các hình thức đào tạo và nghề đào tạo phù hợp với người nghèo tại địa phương nên họ chưa mạnh dạn học nghề.
h. Công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo:
Từ nguồn kinh phí của công tác giảm nghèo của tỉnh, hàng năm Sở Lao động - TB&XH tỉnh phối hợp với UBND huyện đã tổ chức tập huấn về công tác giảm nghèo và hướng dẫn nghiệp vụ rà soát hộ nghèo cho 103 lượt cán bộ ở các địa phương. Nhìn chung hầu hết số cán bộ dự tập huấn đều nắm khá tốt những kiến thức cơ bản về công tác giảm nghèo và nghiệp vụ rà soát hộ nghèo để vận dụng vào thực tiển và công tác, nhất là số cán bộ trẻ ở cơ sở mới được tuyển dụng.
3. Một số chính sách khác tác động giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số
a. Kết quả hỗ trợ mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, chế biến và bảo quản sản phẩm: với tổng nguồn vốn: 814,9 triệu đồng, trong đó:
* Năm 2007: Tổng nguồn vốn đầu tư 354 triệu đồng.
- Xã La Ngâu: Với tổng vốn hỗ trợ 204 triệu đồng (mua máy móc thiết bị 100 triệu đồng xây dựng mô hình heo đen 50 triệu đồng hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi 54 triệu đồng).
- Xã Măng Tố: Với tổng vốn hỗ trợ 150 triệu đồng (mua máy móc thiết bị 70 triệu đồng xây dựng mô hình heo đen 30 triệu đồng hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng 50 triệu đồng).
* Năm 2008: Tổng nguồn vốn đầu tư: 400, 9 triệu đồng.
- Xã La Ngâu: Với tổng vốn hỗ trợ 198 triệu đồng (mua máy móc thiết bị 4 triệu đồng xây dựng mô hình heo đen 50 triệu đồng hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng 54 triệu đồng hỗ trợ giống cây trồng 90 triệu đồng).
- Xã Măng Tố: Với tổng vốn hỗ trợ 172,9 triệu đồng (xây dựng mô hình heo đen 7,9 triệu đồng hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng 50 triệu đồng hỗ trợ giống cây trồng, vật tư, bắp lai và tập huấn 115 triệu đồng).
- Thôn Tà Pứa - Đức Phú: Hỗ trợ tấp huấn chăm sóc cây điều 15 triệu đồng.
- Thôn 2 - Suối Kiết: Hỗ trợ tập huấn chăm sóc cây điều, bắp lai 15 triệu đồng.
* Năm 2009: Tổng nguồn vốn đầu tư 60 triệu đồng.
- Thôn Tà Pứa - Đức Phú: Hỗ trợ 30 triệu đồng mua 02 mấy bơm phục vụ tưới cho mô hình cây ca cao năm 2008, số hộ được hưởng từ chương trình này là 26 hộ.
- Thôn 2 xã Suối Kiết: Hỗ trợ 30 triệu đồng thực hiện mô hình hỗ trợ vật tư nông nghiệp bao gồm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và trang bị bình bơm cho 27 hộ.
b. Kết quả thực hiện dự án phát triển cơ sở hạ tầng: Với tổng nguồn vốn đầu tư 4.571 triệu đồng, trong đó:
* Năm 2006: Thanh toán nợ mố cầu, mặt cầu thôn 3, xã Măng Tố với tổng vốn đầu tư là 08 triệu đồng.
* Năm 2007: Tổng vốn đầu tư xây dựng các công trình 1.786 triệu đồng:
- Giao thông: Thanh toán nợ đường giao thông thôn 1 và thôn 2 xã Măng Tố và đường thôn 3 xã Gia Huynh với tổng vốn đầu tư là 111 triệu đồng.
- Điện: Xây dựng điện khu Lâm viên xã La Ngâu với tổng vốn đầu tư 45 triệu đồng.
- Trường học: Đầu tư xây dựng 05 công trình với giá trị 1.039 triệu đồng, cụ thể:
+ Trường THCS La Ngâu: 500 triệu đồng
+ Sân hàng rào trường TH La Ngâu: 250 triệu đồng
+ Khu WC trường THCS Suối Kiết: 175 triệu đồng
+ Thanh toán hàng rào trường TH Măng Tố: 112 triệu đồng
+ Thanh toán 02 phòng chức năng La Ngâu: 02 triệu đồng
- Trạm Y tế: Thanh toán nợ 02 Trạm Y tế xã Gia Huynh và Măng Tố với tổng vốn đầu tư 426 triệu đồng.
- Chợ: Thanh toán nợ 02 chợ Gia Huynh và chợ Sông Dinh - xã Suối Kiết với tổng vốn đầu tư 165 triệu đồng.
* Năm 2008: Tổng vốn đầu tư xây dựng các công trình 2.477 triệu đồng:
- Giao thông: Đầu tư 02 công trình với tổng số vốn đầu tư 26 triệu đồng (đường vào khu sản xuất thôn 2, xã Suối Kiết 20 triệu đồng sửa chữa đường xóm 1, thôn 3, xã Gia Huynh 6 triệu đồng).
- Thủy Lợi: Đầu tư xây dựng 02 công trình với tổng vốn đầu tư 1.615 triệu đồng (đập Bàu Tre xã Măng Tố 1,535 triệu đồng chuẩn bị đầu tư cải tạo đồng ruộng xã La Ngâu 80 triệu đồng).
- Điện: Tiếp tục xây dựng hệ thống điện khu Lâm viên xã La Ngâu với tổng vốn đầu tư 15 triệu đồng.
- Trường học: Tiếp tục đầu tư xây dựng 5 công trình với tổng vốn đầu tư 694 triệu đồng, cụ thể:
+ Chuẩn bị đầu tư trường TH Tà Pứa - Đức Phú: 40 triệu đồng.
+ Thanh toán nợ 6 phòng TH La Ngâu: 45 triệu đồng.
+ Trường THCS La Ngâu: 280 triệu đồng.
+ Sân hàng rào trường TH La Ngâu: 300 triệu đồng.
+ Khu WC trường THCS Suối Kiết: 29 triệu đồng.
- Trạm Y tế: Thanh toán nợ Trạm Y tế xã La Ngâu với tổng vốn đầu tư 50 triệu đồng. Hiện nay đã đưa vào sử dụng.
- Chợ: Thanh toán nợ 02 chợ Gia Huynh và Sông Dinh xã Suối Kiết với tổng số vốn đầu tư 77 triệu đồng. Hiện nay đã đưa vào sử dụng.
* Năm 2009: Tổng vốn đầu tư 300 triệu đồng (thanh toán nợ).
- Giao thông: 02 công trình 265 triệu đồng trong đó:
+ Thanh toán nợ sửa chữa đường Giao thông nội đồng thôn 3 xã Măng Tố 195 triệu đồng.
+ Thanh toán nợ gia cố 2 mố cầu sắt nội đồng xã Măng Tố 70 triệu đồng.
- Trường học 01 công trình: Thanh toán nợ cổng tường rào, san nền, khu vệ sinh trường tiểu học xã La Ngâu 35 triệu đồng.
c. Kết quả hỗ trợ học sinh con hộ đồng bào DTTS nghèo:
Tạo điều kiện cho con em hộ nghèo không đủ điều kiện vì khó khăn mà bỏ học với mức hỗ trợ học sinh mẫu giáo 70.000 đồng/tháng/em (9 tháng/niên học), học sinh tại các trường phổ thông 140.000 đồng/tháng/em (9 tháng/niên học).
- Tổng kinh phí hỗ trợ niên học 2007-2008 là 430,29 triệu đồng/380 em trong đó:
+ Học sinh mẫu giáo 77 em - Kinh phí 48,51 triệu đồng
+ Học sinh Tiểu học 216 em - Kinh phí 272,16 triệu đồng
+ Học sinh THCS 86 em - Kinh phí 108,36 triệu đồng
+ Học sinh PTTH 01 em - Kinh phí 1,26 triệu đồng.
- Tổng kinh phí hỗ trợ niên học 2008-2009 là 630.000 đồng/01 em.
d. Kết quả hỗ trợ về trợ giúp pháp lý:
Nhằm mục đích nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo, hỗ trợ kinh phí tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại xã, thôn cung cấp thông tin pháp luật (phát tờ gấp, băng cátset) miễn phí cho hộ nghèo. Tổng kinh phí hỗ trợ cho cả giai đoạn 5,5 triệu đồng.
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Những mặt làm được
- Các dự án, chính sách như: Tín dụng ưu đãi hộ nghèo, chính sách hỗ trợ nhà ở hộ nghèo, cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo được thực hiện khá tốt, từng bước làm thay đổi nhận thức của hộ nghèo, người nghèo để tự vươn lên thoát nghèo bằng nội lực tiếp cận các tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới trong sản xuất, các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với người nghèo dân tộc thiểu số.
- Việc huy động nguồn lực thực hiện Chương trình giảm nghèo có tiến bộ, nhất là nguồn lực từ cộng đồng thông qua các cuộc vận động, các phong trào vì người nghèo do Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát động như: Phong trào xây dựng Quỹ “Ngày vì người nghèo” nguồn vận động của các đoàn thể, các nhà hảo tâm… là động lực thúc đẩy công tác giảm nghèo ngày càng tốt hơn, thể hiện truyền thống đạo lý, tinh thần nhân ái trong cộng đồng dân cư.
- Những kết quả của Chương trình giảm nghèo đã góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương tạo đà cho nền kinh tế phát triển, từng bước nâng cao mức sống dân cư và thay đổi bộ mặt xã hội ở địa phương.
2. Tồn tại vướng mắc
- Tình hình giảm nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm ở một số xã, thị trấn tình trạng thoát nghèo thiếu vững chắc dẫn đến số hộ tái nghèo còn xảy ra tại một số địa phương.
- Việc tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ người nghèo hiệu quả chưa cao, một số địa phương tuy được đầu tư nhưng tình trạng hộ nghèo vẫn còn cao.
* Nguyên nhân của những tồn tại:
- Thiếu sự quan tâm chỉ đạo của các Cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương nhận thức về công tác giảm nghèo của một bộ phận cán bộ chưa tốt, nên thiếu tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện.
- Trong chỉ đạo triển khai thực hiện một số ngành, địa phương vừa thiếu tập trung, vừa thiếu chiến lược tổng thể, vừa thiếu cách thức thực hiện. Có nơi gần như coi đây là nhiệm vụ của ngành chuyên môn hay giao phó cho đoàn thể hoặc chỉ đạo chung chung.
- Phần lớn các xã, thị trấn không có cán bộ chuyên trách làm công tác giảm nghèo, chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm nên nhận thức và trách nhiệm thấp, không đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác giảm nghèo. Mặt khác, cán bộ làm công tác giảm nghèo thường xuyên thay đổi nên không nắm bắt được đầy đủ các chính sách, dự án về giảm nghèo nên lúng túng trong triển khai thực hiện hoặc triển khai chậm.
- Nhận thức của một bộ phân dân cư nghèo còn hạn chế, chưa nỗ lực, phấn đấu để vươn lên, tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội.
- Kết quả giảm nghèo ở một số địa phương chủ yếu là do sự nỗ lực vươn lên của bản thân hộ nghèo là chính, địa phương chưa có giải pháp cụ thể, rõ ràng để tác động người nghèo, hộ nghèo nhằm giúp họ thoát nghèo bền vững. Do vậy, khi có sự biến động nhỏ về thị trường, thời tiết không thuận lợi, hoặc có rủi ro nhỏ thì họ tiếp tục rơi vào tình trạng tái nghèo./.
(Theo UBND Huyện TL) |