Các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhiều thay đổi
09.09.2008 22:57
|
|
| Một trong những vườn cao su của đồng bào dân tộc Rai xã Suối Kiết, Tánh Linh. |
Tánh Linh, huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh, có diện tích tự nhiên: 117.422 ha. Trong đó, 41.164 ha đất nông nghiệp, 67.741 ha đất lâm nghiệp, 5.900 ha đất phi nông nghiệp và 2.505 ha đất chưa sử dụng...
Chương trình 135
Toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn, với 104.092 người. Đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) có 2.222 hộ (11.504 khẩu) chiếm tỷ lệ 11%. Chủ yếu là dân tộc K’ho, Rai và Chăm. Đồng bào định canh, định cư tại 12 thôn xen ghép của 6 xã, 1 thị trấn và 1 xã thuần ĐBDTTS (La Ngâu). Đa số sống bằng nghề nông, sản xuất trên diện tích 2.712,38 ha đất nông nghiệp. Nhiều năm trước đây, kinh tế- xã hội vùng ĐBDTTS rất khó khăn do trình độ sản xuất lạc hậu, chậm phát triển. Thu nhập đầu người chỉ 62.000 đồng/tháng. Mỗi năm, từ 4-5 tháng thiếu việc làm.
Từ năm 2000, Tánh Linh có 4 xã đặc biệt khó khăn là: Suối Kiết, Măng Tố, Gia Huynh và La Ngâu, với 2.821 hộ/13.013 khẩu được nhà nước đầu tư chương trình 135 giai đoạn I, kéo dài trong 6 năm (2000-2006). Đến cuối năm 2006, tổng cộng nhà nước đã xây dựng 72 công trình. Trong đó, La Ngâu: 20 công trình; Măng Tố: 20 công trình; Gia Huynh: 16 công trình; Suối Kiết: 16 công trình. Tổng giá trị thực hiện ở 4 xã là: 12,642 tỷ đồng/15,724 tỷ đồng vốn, đạt 80,4% kế hoạch.
Giai đoạn II chương trình 135, bắt đầu từ năm 2007, có 2 xã và 3 thôn được đầu tư. Đó là xã Măng Tố, xã La Ngâu, thôn 2 xã Suối Kiết , thôn Tà Pứa xã Đức Phú… Cả giai đoạn II sẽ có là 23 công trình xây dựng, với tổng nguồn vốn là 6.701,9 triệu đồng. Theo đó, La Ngâu thực hiện 10 công trình, gía trị đầu tư là 3.237 triệu đồng; Măng Tố thực hiện 11 công trình, giá trị đầu tư là 3.434,9 triệu đồng; Thôn Tà Pứa-Đức Phú: 1 công trình; Thôn 2 - Suối Kiết: 1 công trình….
Những thay đổi nhận thấy
Những ngày này chúng tôi trở lại các xã nói trên. Đầu tiên là Suối kiết. Sau 8 năm, địa phương này, từ chỗ nhà cửa thưa thớt, phần đông là nhà vách lá… thì nay đã có nhiều nhà xây. Đặc biệt, trong đồng bào Rai của xã, nhiều người xây được nhà, trồng cao su. Diện tích cao su toàn xã trên 150 ha. Cùng với đó, mấy năm gần đây, năm nào Suối Kiết thu hoạch hàng trăm tấn bắp lai. Suối kiết có chợ Sông Dinh, có trường trung học cơ sở mới xây bằng nguồn vốn chương trình 135. Còn ở La ngâu, nơi có nhiều đồng bào dân tộc K’ho sinh sống, sự thay đổi có thể gọi là không ngờ. Đường về xã, trước đây một vài năm còn đầy ổ gà ổ voi, nay nhựa trải phẳng lì. Tại trung tâm xã, ngoài trạm xá, trường học mới xây, La Ngâu còn có điện thắp sáng, có trạm bơm điện đưa nước từ dòng La Ngà về tưới cho phần lớn cánh đồng của xã. Tại Măng Tố, ngoài trạm y tế mới, nhà nước đang tiến hành xây dựng đập Bàu Tre với kinh phí dự trù 1,5 tỷ đồng… Song điều đáng nói, điều làm thay đổi diện mạo của những địa phương trên phải kể đến là chương trình hỗ trợ mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, cũng như thực hiện các dự án, mô hình phát triển sản xuất làm cho cuộc sống của đồng bào ngày một cao hơn. Theo con số chính thức từ UBND huyện Tánh Linh, năm2007 vừa qua, nhà nước đầu tư tổng cộng 354 triệu đồng cho công việc hỗ trợ này. Cụ thể, hỗ trợ La Ngâu 204 triệu (100 triệu mua máy móc thiết bị, mô hình heo đen 50 triệu, 54 triệu giống cây trồng, vật nuôi ); hỗ trợ Măng Tố 150 triệu (70 triệu máy móc thiết bị, mô hình heo đen 30 triệu, giống vật nuôi, cây trồng 50 triệu)… Năm 2008, dự kiến nguồn vốn hỗ trợ là: 400,9 triệu đồng, trong đó có thôn 2 xã Suối Kiết và thôn Tà Pứa, xã Đức phú. Hiệu quả từ chương trình hỗ trợ đưa lại: người dân ở xã La Ngâu, Măng Tố… không chỉ chủ động khâu cày đất, không lệ thuộc vào tư nhân khi phải thuê cày đất với giá cao; còn chủ động khâu thu hoạch, cũng như kết hợp vận chuyển hàng nông sản, vật tư nông nghiệp về nhà, về nơi bảo quản kịp thời, đây cũng là cách làm gia tăng chất lượng sản phẩm.
Với sự lãnh đạo của huyện và sự nỗ lực vươn lên của bà con ĐBDTTS, đời sống kinh tế-xã hội vùng ĐBDTTS được nâng lên rõ rệt. Không kể những năm trước đó, từ năm 2006 đến nay, ĐBDTTS đã giảm được 421 hộ nghèo; sản xuất nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả. ĐBDTTS tiếp thu dần tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất: biết cách chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng… Kết cấu hạ tầng ở vùng ĐBDTTS được quan tâm đầu tư xây dựng, nhất là các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, vì thế đời sống tinh thần của ĐBDTTS khá hơn trước, nhất là về giáo dục và đào tạo. Y tế, vệ sinh môi trường có chuyển biến tiến bộ, không để xảy ra dịch bệnh, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm dần, tệ nạn mê tín dị đoan cũng giảm đáng kể.. Điều này đồng nghĩa với việc đưa vùng núi tiến kịp vùng xuôi.
(Theo baobinhthuan) |