user login dang ky moi
Tà Pao - nhìn lên và hy vọng
29.05.2010 15:29

Xem hình
Mai này đập hoàn thành, dòng sông Là Ngà bị chặn lại dành nước tưới cho những cánh đồng.
Về Tánh Linh những ngày này, đi đâu cũng nghe người ta bàn tán về công trình đại thủy nông Tà Pao. Có lẽ, đối với những người dân nông thu nhập mỗi năm vài chục triệu, con số 2.700 tỷ đồng bỏ ra để xây đập dâng Tà Pao là quá lớn...

Cũng có người nhẩm tính, để ngăn con sông La Ngà, chỉ cần “bứng” một quả núi, làm một con đê bằng đất, dài nửa cây số, cao 60m, rộng 300m, chân vát ra 500m, vị chi 12 triệu mét khối đất, mỗi khối đất giá 30 nghìn đồng, thành tiền 360 tỷ. Cộng thêm tiền lu lèn các thứ khác, cho tròn nghìn tỷ, chứ làm chi cho kiên cố mà tốn kém… Cũng là một cách tính rất … nông dân, thật thà và dễ thương đấy chứ? Biết là sẽ có lợi cho mình, nhưng tốn đến ngần ấy tiền của nhà nước thì… áy náy quá!

Tôi tìm về Tà Pao sau lễ khởi công chừng mươi ngày. Tháng năm rồi, trời vẫn xanh và cao chót vót, chưa có dấu hiệu gì của cơn mưa đầu mùa. Đất khô khốc, cây cỏ sạm nâu. Công trường rộng lớn, nhộn nhịp những xe là xe mà tịnh không một bóng người. Đứng bên rìa thôn Tà Trang nhìn lên công trường, bồi hồi nhớ chuyện mẹ tôi kể, những năm đầu sau giải phóng, nông dân cả huyện Đức Linh hồi ấy (giờ đã chia hai thành Đức Linh và Tánh Linh), ùn ùn kéo về Trà Tân làm thủy lợi. Trên công trường, cả một biển người với công cụ lao động chẳng khác mấy với cha ông nghìn năm trước, hì hục cuốc, xúc, khênh lên đắp đất be bờ, mà trong tâm tưởng chẳng có chút khái niệm gì tính hiệu quả của công trình. Chỉ là tin vào sự tính toán chỉ đạo của cấp trên mà chấp nhận đổ mồ hôi. Lớp này làm đủ chỉ tiêu thì về cho lớp khác lên thay thế. Sau này, cứ mỗi lần đi ngang Trà Tân, tôi lại cố ý dõi tìm cái dấu ấn của đại công trình thuở nào, nhưng tuyệt nhiên không thấy. Có lẽ vì nó không đủ lớn để đập vào trực giác của người đi đường. Mà cũng có thể, sau hơn ba mươi năm, mưa nắng đã san bằng tất cả. Nghĩ xưa mới thấy, bây giờ công trình to lớn hơn, chắc chắn hơn, mang lại hiệu quả to lớn hơn, thiết thực hơn, mà người dân lại chẳng phải đổ mồ hôi, chỉ lúc nào rảnh rỗi thì tụ nhau bàn tán và chờ đợi ngày công trình hoàn thành, đem lại cơm áo nhiều hơn cho mình. Cuộc đời sao mà sướng thế!
Con sông La Ngà chỉ dài 272km, nhưng có một lưu vực rộng đến 4.710km2, phần lớn nằm ở thượng nguồn, mỗi năm hứng một lượng mưa lên đến trên 10 tỷ mét khối. Với địa hình đồi dốc, thì ít ra mỗi năm cũng có trên 5 tỷ mét khối nước về đến đập dâng Tà Pao này, để rồi tỏa ra tưới tắm cho cả 20.000 ha đất nông nghiệp của hai huyện Tánh Linh và Đức Linh; rồi qua xử lý để chảy vào tận nhà cho nhân dân sinh hoạt; rồi cấp nước cho công nghiệp; rồi san sẻ một phần cho cái khát của vùng đất La Gi – Hàm Tân; còn lại bổ sung cho hồ Trị An để làm thủy điện. Nước bao giờ cũng cần, nhưng để cho “cái có” tìm được “cái cần” thì không phải chỗ nào, thời nào cũng làm được.

Trong cái oi ả của tiết trời tháng 5, lại cúp điện, ông Đỗ Bốn vẫn vui vẻ tiếp chuyện tôi. Ông đã sống nơi đây từ những ngày mà cây rừng còn đứng sừng sững trong vườn nhà. Ông thuộc từng con suối, từng mảnh đất Tánh Linh như thuộc lòng bàn tay mình. Những ký ức về cái thời khai hoang mở đất như một túi nước ngầm, chỉ cần được khơi ra là tuôn tràn bất tận. Ông kể cho tôi nghe về cái thời lúa Đồng Lớn chỉ làm được mỗi năm một vụ mà cũng năm ăn năm thua. Cứ mưa rớt hạt là mới ba giờ sáng, cả làng cả xã đã rồng rắn kéo nhau ra đồng. Cầu Đất trơn trợt, Cầu Dây lắt lẻo. Lối đi nào cũng tiềm ẩn lắm hiểm nguy, vậy mà phải dò dẫm đi trong đêm, để sáng ra còn kịp buổi làm đồng. Cày cấy xong, làm cỏ một đợt rồi bỏ đó, rút về làm ruộng gần, làm rẫy, chờ đến tháng chạp, khi cái nắng gay gắt của mùa khô quay trở lại, lại rồng rắn kéo nhau ra đồng gặt hái. Hồi đó, những hôm tháng tám, tháng chín mưa dầm, đứng trên núi Cà Toong nhìn xuống, thấy nước sông La Ngà dâng lên trắng xóa, lòng dạ nóng hơ, thon thót lo cho cây lúa trên đồng. Rủi ra nước ngập kéo dài, lúa mất trắng thì chẳng khoai ngô nào ngăn nổi cái đói mùa sau. Từ khi có đập thủy điện Hàm Thuận - Đami, luá Đồng Lớn làm mỗi năm hai, ba vụ, cái lo mất mùa không còn nữa. Nói về công trình đập dâng Tà Pao, ông hồ hởi cười: Làm nông, trị được con sông La Ngà để ngăn ngừa “thủy hại” đã là mơ ước ngàn đời, giờ lại có thêm công trình thủy lợi, con cháu mình nhất định sướng!

Anh Lê Đình Minh, một mình làm một mẫu lúa, ba mẫu cao su, nhưng lại bảo cái nghề nông của mình chỉ là nghề phụ. Phần lớn thời gian trong năm anh dành cho dịch vụ đám cưới, gọi là đi “lo cái vui cho thiên hạ”. Anh bảo, làm nông bây giờ phần lớn là sử dụng máy móc. Từ làm đất, bỏ phân, phun thuốc cho đến gặt hái đều có dịch vụ. Thậm chí, máy gặt vừa xuống đồng là thương lái đã chờ sẵn, mua bán tận bờ, chẳng phải lo phơi, rê, sàng, sẩy gì hết. Nghe anh nói, tôi thầm nghĩ, phải chăng đây là dấu hiệu của sự chuyên môn hóa trong nông nghiệp, để rồi đến một ngày không xa nữa, thông qua mua bán trao đổi, sẽ diễn ra quá trình tích tụ ruộng đất, giải phóng lao động nông nghiệp để chuyển sang làm công – thương nghiệp - dịch vụ? Phải rồi, cái đập dâng Tà Pao kia đâu chỉ làm ra để phục vụ nông nghiệp. Một lượng nước rất lớn từ đập dâng này là để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp ở các huyện phía nam Bình Thuận. Nước thì có đập dâng, nhân công thì có lực lượng trẻ đã “vươn lên thoát nghiệp cấy cày”, đường sá thì liên tục được đầu tư nâng cấp, mở rộng… Tất cả như sẵn sàng cho sự cất cánh của cả một vùng đất.

Anh Lê Anh Tuấn, một người làm nông đã trên 20 năm, thể hiện rõ sự trông đợi đối với công trình đại thủy nông Tà Pao qua từng ánh mắt, câu nói, nụ cười. Anh bảo, việc chủ động được nguồn nước tưới có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển nông nghiệp. Những năm gần đây, việc chuyển đổi đất rừng sang đất trồng cây công nghiệp diễn ra ào ạt, dẫn đến tình trạng khô kiệt nước sông, khiến cho nhiều chân ruộng phải bỏ không suốt mấy tháng liền. Muốn làm lúa được hai vụ thì phải chọn giống thật là ngắn ngày nên chất lượng gạo không cao. Nếu chủ động được nước tưới, có thể trồng được lúa xuất khẩu, chu kỳ thu hoạch kéo dài đến 115 ngày nhưng giá trị kinh tế cao hơn. Vả lại, nếu chủ động được cả hai khâu tưới và tiêu thì nhà nông mới thực sự làm chủ được công việc cấy hái của mình; mới có thể thử nghiệm các cây trồng khác để tìm ra một loại cây phù hợp, luân canh với lúa, tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn, phục vụ cho nhu cầu đa dạng của thị trường.

Theo chân mấy người bạn, tôi tìm lên thác Đầu Trâu, nằm trong lưu vực của sông La Ngà. Đã cuối mùa khô, nước chỉ còn rỉ rả. Theo mấy anh cán bộ thôn Tà Pứa thì cả thác Trượt và thác Mưa Bay mùa này cũng cạn. Theo lẽ tự nhiên, phần lớn nước mưa phải được giữ lại trong đất, rồi sau đó qua các mạch nước ngầm, rỉ rả nhập lại thành dòng, chảy ra nuôi cho những con sông bốn mùa chảy mãi; và nhiệm vụ điều hòa ấy là của các cánh rừng. Rừng chính là những “con đập” thân thiện nhất, hiệu quả nhất, kinh tế nhất trong việc điều hòa nước sông, giữ được sự cân bằng cho hệ thống nước ngầm. Trong tự nhiên, lượng nước bốc hơn là hữu hạn, do vậy càng kéo dài vòng tuần hoàn của nước, chúng ta càng có cơ hội được sử dụng nó nhiều hơn; đồng thời hạn chế được các tác hại do chu kỳ tuần hoàn ngắn ngủi của nước gây ra. Do vậy, để điều hòa nước sông, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào các con đập kỳ vĩ và tốn kém, mà còn phải ra sức bảo vệ các cánh rừng.

Sông La Ngà ngày xưa, về mùa nắng nước trong vắt. Những buổi chiều về, trẻ con thường rủ nhau ra sông bơi lội thỏa thích. Nhiều chỗ nước sông chảy chậm, cát bồi bờ thoai thoải, trên bờ trâu ung dung gặm cỏ, dưới nước trẻ rộn rã nô đùa, tất cả ăn sâu vào tâm trí như những kỷ niệm đẹp không thể nào phai. Còn xa xưa hơn nữa, cả thung lũng La Ngà là một vùng bán ngập rộng lớn.  Đây là vùng đất tốt tươi trù phú,  vua Bảo Đại đã từng kinh lý, hiện còn tên núi Bảo Đại ở huyện Đức Linh. Còn bà Trần Lệ Xuân, trong cái “triều đại” ngắn ngủi của họ Ngô cũng đã tìm về cho người khai hoang, lập ấp. Con sông La Ngà mỗi thời một khác, nhưng dù hung dữ hay hiền hòa, đều là nơi mà con người tìm đến để nương tựa, nhờ cậy. Và giờ đây, khi điều kiện chín muồi, con người bắt đầu một công cuộc chinh phục vĩ đại để bắt nó phải phục vụ dân sinh, phục vụ cho công cuộc chấn hưng đất nước.

Quay lại Tà Pao, tôi ghé vào một quán nước ngay sát bên công trường. Một anh thanh niên nằm đòng đưa trên võng, đang tán gẫu với cô chủ quán bằng cái giọng Bắc rặc ri với những lờ - nờ lẫn lộn:

-  Anh chỉ “nên” đây chơi thôi, không ngờ mê cái giọng cười của em mà ở “nại” làm công nhân “nái” máy. Ánh mắt em đẹp “nắm”, sao cứ nhìn đâu đâu không vậy?

- Anh đừng nói quá, lỡ em tin thì khổ cả đời em!

- Em bảo sao?

Cô gái không trả lời mà khe khẽ hát: “Đập xây xong đã lâu, không thấy người về đưa dâu…”. Cả hai cùng bật cười, tiếng cười trong trẻo quấn quýt làm xao động cả mặt sông lấp loáng nắng chiều.

Tôi bước ra sau quán, đứng nhìn đau đáu về nơi mà mai này con sông La Ngà sẽ dừng lại, dâng cao, để rồi tỏa về muôn hướng, nơi có những cánh đồng cháy khát, những khu công nghiệp mới mở, những xóm làng, những dãy phố với các bồn nước đang đặt chồm hỗm trên các mái nhà làm xấu cả không gian. Năm mươi, rồi một trăm năm nữa, có thể nhiều người không còn nhớ đến công trình đập dâng Tà Pao, thì con nước từ đây vẫn ngày đêm âm thầm chảy, để nuôi giữ sự bình an, ổn định, thoải mái cho cuộc sống và công việc của bao người...



(Theo baobinhthuan)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email




Những bản tin khác:



 Lịch vạn sự 
Tháng
Năm 

Danh ngôn:
Làm bất cứ việc gì cũng phải suy nghĩ trước
Lời nói mà suy nghĩ trước thì không vấp váp
Việc làm mà tính trước thì không thất bại
Tính nết có định trước mới tránh được lỗi lầm
Trung Dung
 Đăng nhập gởi bài viết 
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Kiến thức nhà nông 
 Danh ngôn 
Đợi chờ:

Ðối với những người đợi chờ, một lát dường như một năm
Tục ngữ Trung Quốc
 Bài viết nổi bật