Tên gọi của các làng Chăm xưa
kia thường đặt theo đặc điểm địa hình. Như làng gần với bàu cá có tên Play
Chakak (nay là Cảnh Diễn); làng có động cát trắng, Play Choah Patih (Thành Tín);
làng có nước ngọt, Play Ya Mih (Minh Mị)… và mặc dù ngày nay hầu hết tên làng đã
được đặt bằng tiếng Việt song người Chăm vẫn còn quen dùng tên gọi cổ truyền của
làng quê mình.
Làng Chăm thường nằm trên một
động cát bằng phẳng hoặc một gò đất cao ráo, chung quanh là ruộng rẫy trồng lúa
và hoa màu, nhìn từ xa, đó là các khối nhà xếp gần nhau giữa mảnh đất trống gần
như không có cây cối. Vì từ hồi xa xưa, người Chăm tin rằng cây cối um tùm là
nơi ẩn trú của ma quỷ. Ngày nay tệ mê tín dị đoan đã giảm dần; một số cây ăn quả
như mít, dừa được trồng trong làng nhưng chưa phải nhiều lắm.
Nhà ở, nơi cư ngụ của từng tộc
họ, được bố trí trong từng ô khoang hình vuông hay hình chữ nhật, bao quanh bởi
hàng rào bằng cây xương rồng hoặc tường xây. Nhà nào cũng có trổ cửa chính về
hướng Nam hay hướng Tây, vì người ta cho rằng hướng Bắc thường có ma quỷ còn
hướng Đông dành cho thần thánh.
Đúng theo tập tục, khu nhà ở của
một tộc họ người Chăm phải có các nhà sau đây:
Thanh Yơ, nhà tục, được cất
trước tiên trong khuôn viên mà tộc họ Chăm đã chọn làm nơi ăn ở lâu dài. Nhà
dựng trên nền đất thấp, cột gỗ kê đà, mái rui mây lợp tranh, vách tre trái đất.
Nhà có hai căn một chái: một căn làm nơi ngủ; một căn dùng để chứa đồ đạc, nông
phẩm; chái làm buồng khách; một cửa chính mở ra hướng Tây, một cửa phụ mở ra
hướng Nam và không trổ cửa sổ.
Thanh Yơ là chỗ ở của con
gái đầu khi mới lấy chồng; đến lượt con gái kế tiếp lập gia đình thì được nhường
lại và cặp vợ chồng trước chuyển sang ở Thang mơyâu.
Thang Mơyâu cũng cất trên
nền thấp, bằng các vật liệu như của nhà tục. Nhà có ba gian với một chái phía
trước và một mái gảy phía sau, nối tiếp với cửa phụ của Thang Yơ; ngoài hai cửa
chính, phụ còn có cửa sổ mở về hướng Nam.
Thang Kăn, nhà ngang, nơi
ở của cha mẹ và các con chưa lập gia đình riêng; cất nối tiếp theo mặt tiền của
nhà tục.
Thang Tôy, nhà khách, nằm
về phía hướng Tây, cách Thang Mơyâu chừng 20m. Cửa chính quay về hướng Đông và
trổ nhiều cửa sổ.
Thang King, nhà bếp, nối
tiếp nhà khách, cũng nằm về hướng Tây và có cửa chính.
Thang Prong, nhà chứa
thóc, nền đắp cao hơn tất cả nhà khác, vật liệu xây cất như nhau. Có hai căn,
hai mái; mái thứ nhất đan tre trét đất, mái thứ hai lợp tranh. Cửa chính mở ra
hướng Nam và còn có nhiều cửa sổ. Nhà này nằm giữa nhà tục và nhà bếp.
Sau ngôi nhà trên nằm trong
khuôn viên. Nhưng xây xất đủ hay không còn tùy khả năng tài chính của mỗi tộc
họ. So với trước, nhà ở của người Chăm hiện nay được bố trí không khác. Chỉ có
vật liệu xây cất chắc chắn hơn như nền đất đắp đá xanh, cột và vách bằng gạch,
mái lợp ngói hoặc tôn. Cũng đã mọc lên đây đó các ngôi nhà lầu, nhà Tây giữa
vườn cây ăn trái như ở của đồng bào Kinh. Tuy nhiên nhà cửa xây cất đều phải
chọn ngày thứ tư, thứ năm và là ngày chẵn của hạ tuần các tháng 3, 6, 8, 10 và
11 theo lịch Chăm để khởi công.
Phần nhiều các làng Chăm thường
là nơi tụ cư của các nhóm gia đình thân thuộc và những người cùng chung một tôn
giáo. Cuộc sống đòi hỏi phải có trung tâm cho dân làng được tham gia sinh hoạt
chung. Do đó, làng Chăm theo đại Hồi (phái Bà Ni) có một ngôi chùa cất trên khu
đất rộng được rào xung quanh, thường ở giữa hoặc phía Nam của làng. Còn người
Chăm theo đạo Bà La Môn thì mọi lễ nghị thờ cúng đều tổ chức ở các đền tháp nên
chỉ lập ra thang làng, tức là nhà làng để làm chỗ hội họp. Trên thực tế nhà làng
là trụ sở làm việc của các chức việc trong làng, và sau này biến thành trụ sở
hợp tác xã.
Cũng nên biết thêm là trải qua
các thời kỳ có những xáo trộn về kinh tế – xã hội, trên địa bàn cư trú của người
Chăm đã có mặt các nhóm người thuộc dân tộc khác đến làm ăn sinh sống. Nhưng họ
không ở xen kẽ với nhau mà thường tác thành khu vực riêng biệt.
Nhìn vào cách ăn uống, giống như
người Kinh, chủ yếu bằng lúa, ngô, khoai, sắn, thực phẩm là rau, cá thịt.
Chỉ khác do tín ngưỡng tôn giáo,
họ không ăn một số loại cầm thú nên thức ăn chính là hải sản. Cách chế biến thức
ăn của người Chăm thấy đơn giản hơn nhiều so với người Kinh. Mâm ăn hàng ngày có
thịt, cá, trứng nhưng thường là luộc, nấu, xào, kho rất ít các món ăn được chế
biến bằng các loại thực phẩm khác nhau.
Người Chăm coi trọng quá khứ, dĩ
vàng, nên dịp lễ hội cúng bái, họ dành những món ăn ngon nhất để cúng vua chúa,
thần linh và tổ chức ăn uống linh đình. Hoa quả, bánh trái, lễ vật chưng dọn là
gà vịt luộc nguyên con hay vịt và lòng trâu luộc bên cạnh các cỗ xôi. Khi đãi
đằng, đông người thì có thịt heo, thịt dê; đặc biệt trầu cau và rượu trắng là
không thể thiếu trong các mâm cúng, mâm tiệc.
Tìm hiểu về lối phục sức của
người Chăm, trước hết nên nhớ dân tộc này vốn có nghề trồng bông, nuôi tằm, kéo
sợi dệt vải lụa từ lâu đời. Các loại thổ cẩm của họ mang màu sắc tươi đẹp với mô
típ hoa văn trang trí khá độc đáo.
Qua nhiều thế kỷ, đến nay đồng
bào Chăm vẫn giữ trang phục cổ truyền của dân tộc mình; nhất là tấm áo dài của
nữ giới được các tổ chức chuyên về thời trang chú ý, ca ngợi về tính cách duyên
dáng của nó.
Phụ nữ Chăm thuộc lứa tuổi trung
niên trở lên, xưa kia thường mặc bên trong áo cánh, bên ngoài là chiếc áo màu
đen hoặc màu tối. Áo dài mở giữa thân trước một đoạn dài cài khuy vải; lại có
kiểu áo dài khác không mở giữa và khi mặc phải chui đầu vào cổ áo. Cổ áo không
cài khuy mà được khoét xuống phía trước theo hình chữ U. gấu áo rộng dài ngang
ống chân. Tấm váy bằng vải hoặc bằng tơ tầm màu đen, dài chấm gót; có những
đường kẻ ngang hoặc hình ô trám với màu sắc trắng, đỏ, vàng đen xen nhau trên
mặt váy. Tấm khăn dài rộng màu trắng hoặc đen phủ lên mái đầu búi tóc, trùm
xuống lưng. Phụ nữ Chăm ngày nay cũng giữ lối quấn đầu bằng loại khăn hẹp khổ
hơn; nhưng không giống nhau về đạo giáo. Như đạo Bà La Môn thì hai đầu khăn đưa
về phía trước, bắt chéo nhau và đầu khăn bên phải ép chặt đầu khăn bên trái và
buông dài xuống quá vai. Còn phụ nữ theo đạo Hồi quen choàng khăn rộng, dài từ
sau ra trước, hai đầu khăn hất lên đỉnh đầu và phủ kín ót. Tục lệ trùm khăn khi
ra đường đối với chị em phụ nữ Chăm còn nhằm để đối phó mọi thứ tà ma.
Các lớp thanh, thiếu niên Chăm
cũng mặc áo dài song phần trên ôm bó tấm thân và rộng hơn ở phần dưới. Vải áo có
nhiều màu, điểm hoa nhỏ; cổ áo lượn tròn. Mái tóc các cô gái tùy ý thích mỗi
người: khi buộc túm hoặc cặp sau gáy, khi buông lơi. Vào ngày lễ hội, áo dài của
cô gái Chăm thêm rực rỡ với dải vải lấp lánh đường kim tuyến quàng chéo ngực và
thắt ở bụng. Đồ trang sức có nhiều dạng: đeo hoa tai hình nụ, ở cổ đeo dây
chuyền vàng hay chuỗi hột vàng… Con gái Chăm thích đeo vòng tay và đeo nhẫn ở
nhiều ngón.
Trang phục của nam giới Chăm có
nét đặc biệt là tất cả dùng màu trắng. Thường ngày, đàn ông mặc áo ngắn tay dài,
cổ đứng; suốt thân sáo trước được xẻ cài khuy. Dự lễ hội, họ mặc áo trắng dài,
may rộng ở phần gấu. Quanh thân dưới, quấn tấm chăn trắng với mép đứng viền nẹp
các màu đỏ vàng. Nói chung, áo váy rộng rãi giúp cho mọi người quỳ xuống, đứng
lên thuận tiện trong các cuộc tế lễ. Đàn ông Chăm không để đầu trần mà quen vấn
khăn đầu và bỏ mép khăn ở hai bên thái dương. Khăn cũng màu trắng nhưng có đường
viền màu ở mép đầu khăn cùng với hai tua sợi đỏ, vàng, đen bỏ thòng ở mang tai
làm đẹp hẳn lên gương mặt trai tráng.
Chung thì như vậy, nhưng về đạo
giáo, trang phục cổ truyền đàn ông Chăm có nét khác nhau. Đàn ông đạo Bà La Môn
quấn xà rông, bên ngoài mặc áo dài, khuy áo là 4 sợi dây cột ở hai bên hông, đến
lễ hội choàng một dây vải viền hoa văn xen kim tuyến. Theo đẳng cấp, xà rông
thường dân không có viền, chỉ xà rông sư cả mới có viền. Chức sắc Bà La Môn đội
mũ theo cấp bậc.
Đàn ông đạo Hồi xà rông quấn bên
trong, ngoài mặc áo dài cổ hình trái tim, đầu quấn một lúc hai khăn gọi là khăn
trong, khăn ngoài, lễ hội mặc xà rông có viền, cổ áo cao có 3 mút trước ngực,
sau lưng có hai đường chỉ tạo hình lá đề, đầu đội mũ trắng đính hạt kim tuyến.
Trang phục lễ cưới người Chăm
thường dùng màu trắng, riêng nữ mặc thêm chăn màu. Cô dâu chú rể mặc những chiếc
chăn mới nhất, choàng những dây choàng có đường viền đẹp nhất và đầu quấn những
chiếc khăn có viền và tua rất đẹp.
Trang phục tang lễ Chăm cũng
mang màu sắc tôn giáo rõ rệt: ví dụ đạo Bà La Môn trước khi hỏa táng mặc vào
người chết những bộ quần áo đắt tiền, kết ví ở cổ, ở gấu, ngày thường không ai
mặc tới. Người già lo may sẵn chờ lúc lâm chung, người nghèo mặc 2 – 3 chiếc,
giàu mặc 5 – 6 chiếc, có người tới 9 chiếc. Các thầy làm lễ hỏa táng đều mặc y
phục cổ truyền. Thầy cả càm phép áo thụng dài, cổ quàng khăn đỏ, tay cầm gậy
trúc quấn những thỏi sáp vàng. Thầy bà xế lo chuyện chôn cất, tay cầm chà gạt, y
phục quấn gọn gàng hơn. Ban nhạc cũng mặc lối cổ truyền nhưng giản dị hơn. Khi
lễ vong linh quấn ngang lưng. Khi rước người chết ra giàn hỏa, con cháu, họ
hàng, làng xóm đều để tốc xõa, khăn không quấn mà trùm ngang đầu.
Về đời sống vật chất của người
Chăm không thể không nói đến nghề thủ công dân gian không bị thất truyền là dệt
thổ cẩm và làm gốm.
Dệt thổ cẩm Chăm phần lớn tập
trung ở 90% hộ xã Phan Hòa, huyện Bắc Bình. Theo truyền thuyết, mẹ xứ sở PôInư
Naga dạy cho phụ nữ Chăm nghề dệt để may mặc và tôn vinh sắc đẹp. Sách “Vân đài
loại ngữ” của Lê Quý Đôn viết Lâm Ấp có cây cáct bối là một loại cây có hoa nở
giống như lông ngỗn rút lấy sợi làm chỉ đệt khăn, xiêm áo có hình rồng Chăm,
chim thần Garunda phục vụ vua chúa, cung đình.
Bây giờ ở xã Phan Hòa, chiếc
khung dệt cổ truyền đóng bằng gỗ trắc có sức bền trăm năm không sợ mọt, gãy và
giàn cán bông, cung bắn bông, xa quay kéo sợi vẫn còn thông dụng. Bông hái về
phơi khô, cán lấy hột, dùng cung bắn cho bông bung ra, trải thành lớp mỏng, lấy
thanh tre cuộn lại thành con bông rời móc vào xa quay kéo sợi. Muốn sợi săn chắc
không bị xù lông và đứt khi dệt thì đem ngâm nước cơm, đạp cơm, sau đó chải sợi,
phơi khô, đánh ống. Muốn có sợi màu thì nhuộm lục từ cây chàm, đỏ từ lá trâm
bầu, đen từ cây muông, vàng từ cây trừng. Thời công nghiệp có sẵn chỉ trắng, chỉ
màu ngâm tuyến, kim tuyến mua về dệt đỡ công hơn đệt từ bông xơ và chế biến màu
từ lá cây rừng. Khi dệt, người thợ mắc sợi trên khung rồi ngồi trước khung đưa
tay lòn con thoi qua lại và dùng dao dệt dập sợi, tạo nên tiếng kêu lách cách
ngắt nhịp đều đều. Muốn tạo mô típ hoa văn, người thợ lành nghề có thể “bắt
bông” cách điệu với những họa tiết mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Từ 4 hoa văn
cổ truyền xanh két, vàng cúc, trắng đen đi trên nền đỏ, bà con tạo ra các sản
phẩm túi xách, ví, khăn, dây thắt lưng thích hợp với thị hiếu khách hàng.
Còn nghề gốm ở Xóm Giàn, Xóm Gọ
phía Nam sông Thương, cách Chợ Lầu một con đò. Trong chiến tranh, Xóm Giàn đã bị
bom đạn san thành bình địa, còn Xóm Nồi tên Chăm là Play Gok, người Việt trong
vùng quen gọi là Xóm Gọ, làng Trí Đức (xã Phan Hiệp ngày nay) vẫn còn hành nghề.
Sản phẩm gốm Chăm đa dạng về chủng loại bao gồm đồ đun nấu, đồ đựng, khuôn bánh
mỏng nhẹ, bền, giá rẻ phù hợp với túi tièn dân nghèo nên được tiêu thụ nhiều
trong người Chăm, người Kinh, người Thượng trong tỉnh, và ra cả ngoài tỉnh. Gần
đây tiếng tăm làng gốm Chăm Trì Đức thực sự vang xa. Tháng 7/1996, một số nghệ
nhân Chăm được nước Nhật mời sang dự triển lãm với chủ đề “Thế giới qua ngọn
lửa”
Cũng cần biết thêm trong các
nghề thủ công, làng nhạc cụ cũng là một nghề dân gian truyền lại không qua sách
vở từ đời này sang đời khách trong đồng bào Chăm. Nhạc cụ Chăm, hình thức vốn
đơn giản, mộc mạc nhưng lại phức tạp về mặt kỹ thuật, vật lý âm thanh, do đó
không mấy ai có thể làm được. Hiện nay ở Bình Thuận chỉ còn một vài nơi nghệ
nhân còn tiếp tục hành nghề như các ông Cả Vỗ ở Phan Hiệp, Phan Thanh (huyện Bắc
Bình).
Người Chăm xưa cũng xỏ lỗ tai và
đeo vàng nơi cổ và tay. Thiếu nữ Chăm quý phái trang sức cho mình bằng những đôi
hoa tai đẹp, cổ đeo xâu chuỗi gồm những hạt chuỗi bằng vàng. Nhẫn cưới cô dâu
chú rễ đeo cho nhau mặt chạm hình vảy cá, ở giữa có một con mắt. Trẻ em Chăm
thường đeo nơi cổ tay sợi dây bằng bải quấn tròn xỏ vào trong một miếng kẽm, coi
như là bùa trừ tà ma, quỷ quái.
Ngày nay, theo sự đổi mới của xã
hội nói chung, lối ăn mặc cũng đơn giản hơn. Thanh niên nam nữ Chăm đã bắt đầu
ưa thích kiểu quần áo âu hóa trong đời thường. Giới nữ thanh cũng làm quen với
cách trang điểm phấn son song vẫn giữ được nết kín đáo chứ không lộ liễu, diêm
dúa.
Tuy nhiên đến các kỳ cúng tế, lễ
hội, đồng bào Chăm không quên trưng bày vẻ đẹp truyền thống của trang phục dân
tộc qua chiếc khăn, tấm áo, chiếc váy, dây thắt lưng không thể lẫn lộn được với
cách ăn mặc của bất cứ dân tộc nào khác trong cộng đồng xã hội Việt Nam.