Làm thế nào để có một giống lúa kháng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ?
24.10.2006 02:32
|
|
| Kỹ sư Trần Minh Chánh đang phân tích tìm giống lúa mới |
Trong quá trình canh tác lúa, sự xuất hiện và gây hại của rầy nâu đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất và sản lượng lúa. Nguy hiểm hơn nữa rầy nâu còn là môi giới truyền virus gây ra bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá mà trong thời gian qua đã gây thiệt hại khá lớn cho sản xuất lúa trong tỉnh. Tính đến ngày 30/9/2006, toàn tỉnh đã có 10.066 ha lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, trước đây vào ngày 12/9/2006 mới chỉ có 4.239 ha.
Ở Bình Thuận, hầu hết các giống lúa chủ lực hiện đang sản xuất đại trà như TH6, ML48, IR59606, IR59656, IR56279, IR64, các giống lúa thơm như Jasmine, OM3536… tuy chưa chính thức nghiên cứu phản ứng của các giống đối với rầy nâu, nhưng qua thực tế sản xuất thì hầu hết đều bị nhiễm rầy nâu theo các cấp độ khác nhau. Như vậy, theo lý thuyết nếu ta có được một giống hoàn toàn kháng rầy nâu, hoặc trong sản xuất không có rầy nâu thì chắc chắn sẽ không phát sinh bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá để gây hại cho sản xuất. Nhưng thực tế trong thời gian qua, tỉnh ta đã phải đương đầu với sự phát sinh, phát triển và gây hại của bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Từ thực tế đó, ta có thể rút ra một số nguyên nhân chính làm xuất hiện bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá: -Hầu hết các giống lúa hiện đang được sản xuất đại trà đều bị nhiễm rầy nâu. -Hiện nay ở một số nơi người dân chỉ sử dụng duy nhất một giống lúa cho sản xuất liên tục trong nhiều năm, qua thăm dò có nơi nông dân đã sử dụng 1 giống lúa trong gần 10 năm hoặc hơn. -Vẫn còn rất nhiều nông dân chưa thực sự quan tâm đến công tác giống, phần lớn người dân tự để giống cho sản xuất của riêng mình và vẫn còn tình trạng người dân gieo quá dày (khoảng 200-250 kg giống/ha). Vì vậy bà con đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình chăm sóc và quản lý rầy nâu. -Ở những vùng thuận lợi về nước tưới, vùng nước gió hầu hết bà con nông dân đều tổ chức sản xuất 3 vụ lúa/năm, thậm chí có nơi sản xuất 7 vụ lúa/2 năm. -Thực tế cho thấy trên một xứ đồng của một khu vực sản xuất lúa luôn luôn hiện diện các trà lúa, ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng khác nhau từ giai đoạn mới gieo cho đến giai đoạn làm đòng, trỗ, chín. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho rầy nâu phát triển, gia tăng mật số và di chuyển từ trà lúa này sang trà lúa khác làm phát triển và lây lan bệnh ngày càng rộng thêm. Trước tình hình đó, để có thể tự chọn lựa cho mình một giống lúa thích hợp trong điều kiện sản xuất như hiện nay, bà con nông dân cần chú ý: 1- Biện pháp lựa chọn và sử dụng giống hoàn toàn kháng rầy là khó có thể thực hiện được, vì trong thực tế sản xuất hiện nay cho thấy người nông dân vẫn thích trồng các giống lúa thơm đặc sản để bán có giá, mà những giống lúa thơm thì thường có tính nhiễm rầy. Mặt khác khoa học cũng đã chứng minh đối với một giống có tính kháng rầy trung bình sẽ chỉ phát huy tác dụng nếu mật độ rầy nâu thấp dưới 1.000 con/m2, nhưng nếu mật độ rầy nâu từ 1.000-3.000 con/m2 thì giống cũng ở trong tình trạng báo động và nếu mật độ cao hơn 3.000 con/m2 thì vẫn xảy ra tình trạng cháy rầy. 2- Để khống chế không cho rầy liên tục phát triển, gia tăng mật số để gây hại cho sản xuất bà con nông dân phải tuân thủ yếu tố thời vụ đã được các nhà chuyên môn khuyến cáo, nhằm khắc phục tình trạng trên cùng một xứ đồng của một khu vực sản xuất nhưng lại hiện diện tất cả các trà lúa, ở mọi giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa. Ngoài ra để có thể quản lý tốt rầy nâu trên đồng ruộng bà con nông dân nên gieo thưa khoảng 120-150 kg/ha và tốt nhất nên sử dụng công cụ sạ hàng-một biện pháp kỹ thuật mới-trong canh tác lúa. 3- Để góp phần cải tạo đất khắc phục tình trạng bóc lột đất và gây kiệt quệ cho đất. Đồng thời, nâng cao năng suất lúa thời gian đến, trong sản xuất bà con nông dân cần phải thay đổi giống không nên sản xuất chỉ duy nhất bằng một giống ngay trên một chân ruộng (ít nhất 2-3 vụ phải thay đổi giống một lần). Đối với các chân ruộng khó khăn về nước tưới, bà con nên bố trí để luân canh với 1 cây trồng cạn khác, riêng đối với các chân ruộng hoàn toàn chủ động nước và vùng nước gió cần phải hạn chế và tiến đến chấm dứt hẳn việc sản xuất liên tục 7 vụ lúa/2 năm. Tuân thủ đúng và đầy đủ các đề nghị trên chắc chắn bà con nông dân sẽ kiểm soát và quản lý được rầy nâu ngay trên đồng ruộng của mình, góp phần khống chế được bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Th.s: ĐÀO THỊ KIM DUNG
(Theo baobinhthuan) |