02-09-1945: Tuyên ngôn Độc lập và tầm nhìn thời đại
01.09.2006 22:45
|
|
| Việt Nam chuyển động - Vì niềm tự hào Việt Nam |
Đọc lại Tuyên ngôn Độc lập khi đất nước đang đi vào chặng đường thử thách, càng cảm nhận được sự bất tử của khát vọng giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc trong sự nghiệp cao cả của Hồ Chí Minh. “Đầu tiên là công việc đối với con người”, nét chủ đạo ấy khiến tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành bất tử.
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là khát vọng cháy bỏng ngàn đời của con người, của loài người. Kỷ niệm 61 năm bản Tuyên ngôn Độc lập 2-9 lịch sử, càng đọc càng thấm thía tầm cao trí tuệ và chiều sâu văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về lý tưởng giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người. Hồ Chí Minh hiểu rõ mục tiêu của từng chặng đường trên con đường dẫn đến lý tưởng đúc kết khát vọng đó của cả loài người: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Hồ Chí Minh không lẫn lộn mục tiêu cụ thể và trực tiếp của từng chặng với cái đích lý tưởng ở phía chân trời để tránh đi những ảo tưởng duy ý chí, dẫn đến hành động nôn nóng “đốt cháy giai đoạn”, gây hậu quả ngược lại với mục tiêu. Vì thế mà Người “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”. Người đòi hỏi “không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn, điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể” nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng nhờ vào những phẩm chất ấy. Bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khiếm khuyết mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ cần phải làm gì cho nhân dân mình. Vì thế, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng chính là người đặt nền móng xây dựng “nhà nước pháp quyền Việt Nam”. Từ Đại hội VII đến Đại hội VIII, tư duy về “nhà nước chuyên chính vô sản” đã được dần dần thay thế bằng tư duy về “nhà nước pháp quyền”. Đại hội X khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN”. Đó chính là quá trình quay trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, một quá trình không thể đảo ngược được, bất chấp mọi sự trì kéo, cản trở. Vì đó là chân lý của cuộc sống. Ở tầm cao văn hóa, mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập của một dân tộc vừa trải qua một thế kỷ nô lệ, của một đất nước bị mất tên trên bản đồ thế giới, Hồ Chí Minh dẫn ra tư tưởng về nhân quyền bởi vì Người hiểu rằng “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người hoàn toàn không phải là một sự dối trá của giai cấp tư sản, mà thật sự là một ý tưởng phổ quát, thật sự đáp ứng một hi vọng toàn cầu. Sẽ không bao giờ có bình đẳng thật sự giữa tất cả mọi người, song ở chân trời của tất cả mọi người, bao giờ cũng sẽ có ý tưởng bình đẳng. Và ta sống với chính sự vẫy gọi đó. Chính cái đó làm cho sự vật chuyển động”. Không thấy tính tất yếu của quá trình vận động dẫn đến sự phán quyết của lịch sử đối với chế độ tư bản sẽ không hiểu được qui luật vận động của lịch sử. Tuy nhiên, nếu không thấy những điều chỉnh để có thể tồn tại và phát triển của chính nó, chế độ tư bản hiện đại đã đẩy tới quá trình làm biến đổi hoàn cảnh và con người sống trong hoàn cảnh đó, là quay lưng lại với hiện thực đang vận động, là tự bưng tai bít mắt mình, tước bỏ mất khả năng hành động phù hợp với điều kiện mới, đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Xúc động đọc lại Tuyên ngôn Độc lập khi mà đất nước đang đi vào chặng đường thử thách chưa có tiền lệ, càng cảm nhận được sự bất tử của khát vọng giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc trong sự nghiệp cao cả của Hồ Chí Minh. “Đầu tiên là công việc đối với con người”, tư tưởng ấy trong “Di chúc” cũng là nét chủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh khiến cho tư tưởng ấy trở thành bất tử.
Tương Lai (Theo Tuổi Trẻ) |